Lý Huyền Độ dẫn theo một toán hơn mười kỵ binh, lên đường hướng về Ngọc Môn Quan.
Hắn tiếp tục cuộc hành trình bất kể ngày đêm, vó ngựa không dừng, nhưng lần này, tâm trạng hắn khác hoàn toàn so với những chuyến đi trước. Giờ đây, hành trình gian khổ này bỗng ngập tràn sự háo hức. Hắn không cảm thấy mệt mỏi. Sau khoảng mười ngày, hắn đã đi gần nửa chặng đường. Hôm đó, hắn tới một thị trấn nhỏ tên là Bồ Đào.
Từ đây, nếu tiếp tục đi về hướng Đông từ bảy đến tám ngày, băng qua Bạch Long Đôi, Ngọc Môn sẽ ở ngay trong tầm mắt.
Bồ Đào là một thị trấn nhỏ, dân số chưa tới ngàn người, tường thành được đắp bằng đất vàng thô sơ, chu vi chẳng quá vài dặm. Tuy nhỏ bé là vậy, nhưng nơi này lại là điểm dừng bắt buộc trên tuyến đường Đông – Tây, là nơi thương lữ dừng chân để bổ sung lương thực cũng như nghỉ ngơi ngắn ngày.
Khi Lý Huyền Độ đến nơi, trời vừa đứng bóng. Vì không muốn làm kinh động dân chúng trong thành nên hắn chỉ phái người dùng ít tiền đổi lấy một ít lương khô. Thấy trên đầu mặt trời chói chang như đổ lửa, mồ hôi trên cổ ngựa túa ra đầm đìa, không thích hợp để tiếp tục lên đường, hắn bèn truyền lệnh nghỉ ngơi tại chỗ.
Mọi người tản ra tìm chỗ đặt chân, ăn uống dưới tán cây bên ngoài cổng thành. Lý Huyền Độ ngồi trên một tảng đá dưới gốc cây, trời nóng bức, hắn chẳng có một chút khẩu vị nào, chỉ uống vài ngụm nước mát rồi tựa lưng vào thân cây, kéo nón tre xuống che nửa mặt, lim dim chợp mắt.
Gió nóng hầm hập, hắn không tài nào ngủ nổi, bất giác, hắn nghĩ đến bức thư nàng gửi cho mình.
Bức thư ấy, hắn đã thuộc nằm lòng, vậy mà hầu như mỗi lần nghĩ về nó, hắn lại có thêm những tầng cảm nhận mới.
Trong nửa đầu bức thư, nàng có nhắc đến cái gọi là “kiếp trước”. Về điều này, hắn vẫn không tin.
Ngay từ lần đầu đọc, cảm giác của hắn cũng giống như đêm đó, khi lần đầu nghe nàng nhắc tới khái niệm này ở vách đá phía sau tòa lũy thành, hắn cho rằng, vì tuổi thơ quá cơ cực, nên nàng mới mơ tưởng đến phú quý mà thôi. Với điều kiện trước kia của nhà họ Bồ, việc nàng biết đến Thái tử Lý Thừa Dục là chuyện đương nhiên, cho nên mới hy vọng y sẽ là người cứu mình thoát khỏi bể khổ. Ngày nghĩ nhiều, đêm mộng cũng nhiều, mộng mãi rồi, e rằng đến chính nàng cũng không phân biệt được thật – giả, cuối cùng coi mộng là thật, cố chấp không buông.
Liên hệ với những gì Dương Hồng từng tiết lộ về cảnh ngộ thời thơ ấu của nàng, chỉ e thực tế còn gian nan hơn cả những gì nàng đã nói.
Không biết nàng đã phải chịu bao nhiêu khổ cực nên mới xem Lý Thừa Dục là chiếc phao cứu sinh duy nhất mà một người sắp chết đuối có thể bám víu vào.
Nghĩ đến đó thôi, hắn lại càng thương xót nàng hơn.
Nhưng lúc này, khi đọc kỹ những lời nàng tự bộc bạch trong thư, hắn nhận ra rằng nàng không chỉ mơ thấy mình được gả cho Lý Thừa Dục, mà còn là người sắp xếp nửa đời còn lại của y ổn thỏa đâu vào đấy. Điều này khiến lồng ngực Lý Huyền Độ bỗng nghẹn lại, xen lẫn sự bất bình mơ hồ.
Năm xưa, trước khi nhà họ Bồ bị định tội, hắn, Tứ hoàng tử, Tần vương Lý Huyền Độ, mới là thiếu niên số một ở kinh đô.
Tuy khi ấy nàng mới tám tuổi, chỉ là một cô bé hồn nhiên chẳng hiểu sự đời, nhưng hắn không tin rằng nàng chưa từng nghe đến tên mình.
Nếu nàng mơ thấy hắn cuối cùng sẽ đăng cơ làm Hoàng đế, vậy thì vì sao khi hai người lần đầu gặp gỡ ở Hà Tây, nàng lại không tìm cách quyến rũ hắn? Cớ sao nàng lại khăng khăng tìm cách tiếp cận cháu trai hắn là Lý Thừa Dục?
Nếu không phải run rủi thế nào, Hàn Vinh Xương vô tình chen chân vào, rất có thể nàng đã gả cho cháu trai hắn một cách thuận buồm xuôi gió. Nếu nàng thực sự trở thành Hoàng hậu, với niềm tin tuyệt đối vào giấc mơ của mình (mơ thấy hắn lên làm Hoàng đế), hắn tin chắc nàng sẽ tìm cách đối phó với hắn.
Hắn nhớ lại lần đầu gặp nàng ở dịch xá Phúc Lộc Hà Tây.
Tuy tình huống khi đó chẳng mấy vui vẻ, nhưng hắn tự thấy mình cũng chẳng làm điều gì có lỗi với nàng. Thậm chí, hắn còn hào phóng rút tiền giúp đỡ, nếu không phải vì thực sự không chịu nổi việc nàng tự hạ thấp bản thân, suýt nữa hắn đã cởi cả áo lông cừu trên người, đưa cho nàng rồi.
Sao nàng lại không để mắt đến hắn chứ?
Chưa dừng lại ở đó, lúc vừa gả cho hắn, nàng còn mong hắn chết sớm, để nàng có thể thực hiện giấc mộng làm Thái hậu.
Đúng là chẳng đâu vào đâu.
Đợi chuyến này đón được nàng về, hắn phải xem biểu hiện của nàng thế nào đã. Nếu nàng làm bất cứ điều gì khiến hắn không vừa ý, hắn nhất định phải làm cho ra lẽ chuyện này…
Gương mặt Lý Huyền Độ bị vành mũ rộng che khuất một nửa, song khóe môi lộ ra ngoài lại cong lên, cơn buồn ngủ cũng dần kéo đến.
Đang lúc lơ mơ chợp mắt, một giọng nói đột nhiên vang lên bên tai hắn: “Điện hạ! Diệp Phó Đô úy! Diệp Phó Đô úy về rồi!”
Lý Huyền Độ giật thót. Hắn bừng tỉnh, đôi mắt mở to, hất nón tre ra, đứng bật dậy khỏi tảng đá, quay phắt người, nhìn về hướng thuộc hạ đang chỉ.
Mấy kỵ binh phơi mình dưới nắng, men theo con đường bùn vàng khô cằn, uốn lượn quanh co, đang từ phía đối diện phi nhanh về phía này.
Người dẫn đầu tuy đầu tóc rối bời, mặt mày lấm lem, nhưng đường nét gương mặt và dáng người thì quen thuộc vô cùng, chỉ liếc mắt hắn đã nhận ra ngay.
Chính là Diệp Tiêu.
Hơn một tháng trước, Diệp Tiêu đã lên đường đuổi theo Hàn Vinh Xương. Hắn khởi hành muộn hơn Hàn Vinh Xương khoảng mười ngày, nên bị tụt lại phía sau. Đến nay, bức thư của nàng đã được gửi về Đô hộ phủ nhưng Diệp Tiêu vẫn bặt vô âm tín. Trước đó, Lý Huyền Độ từng đoán rằng có lẽ y đã đi lạc nhánh đường nên mới không gặp được sứ giả do Hàn Vinh Xương phái về, bởi ngoài những tuyến bắt buộc thì từ đây đến Ngọc Môn Quan, còn rất nhiều ngã rẽ, chuyện lạc đường cũng không quá khó hiểu.
Tùy tùng từ dưới bóng cây lao ra, lớn tiếng gọi Diệp Tiêu và những người đi cùng.
Diệp Tiêu thúc ngựa đi suốt một quãng dài đến đây, lương khô và nước đã gần cạn, đang định vào thành bổ sung tiếp tế nên cứ thế, giục ngựa phi thẳng tới cổng thành. Nghe thấy tiếng gọi, hắn ngẩng đầu lên, thấy Lý Huyền Độ đứng ven đường, hai mắt đỏ ngầu đầy tia máu, liền cao giọng gọi “Điện hạ”, sau đó quất mạnh một roi vào hông ngựa, mặc kệ tất cả, lao thẳng tới trước mặt Tần vương.
Ngựa chưa kịp dừng, người đã lăn xuống đất, gào lên: “Điện hạ! Không xong rồi! Hà Tây thất thủ!”
Lý Huyền Độ cả kinh, bước nhanh tới trước, một tay kéo Diệp Tiêu dậy khỏi mặt đất: “Đã xảy ra chuyện gì rồi?”
Diệp Tiêu thở gấp một hơi, lập tức bẩm báo toàn bộ tin tức mà mình vừa nắm được.
Hơn nửa tháng trước, hắn phụng mệnh truy tìm vương phi, cuối cùng cũng đuổi kịp tới khu vực Ngọc Môn. Thế nhưng vừa đến nơi, hắn mới hay cục diện đã biến chuyển dữ dội.
“Giờ Ngọc Môn Quan không còn nằm trong tầm kiểm soát của binh lính Hà Tây mà đã bị người Đông Địch chiếm trọn! Hơn một tháng trước, mười vạn kỵ binh Đông Địch theo đường Nhu Viễn tập kích Hà Tây. Đúng lúc này, Thẩm Dương nổi loạn ở Đông Đô, tình trạng bất ổn cũng bùng phát ở biên giới phía Bắc. Cả ba nơi đều lâm vào tình thế nguy cấp. Khi đó, Hoàng đế đang tuần biên tại Hà Tây, nhưng lại hạ lệnh đóng chặt Tĩnh Quan, bỏ mặc Hà Tây không cứu. Thuộc hạ đành phải quay về trước để bẩm báo tin này cho điện hạ. Ngày khởi hành trở lại, thuộc hạ tình cờ gặp được sứ giả do Dương Hồng phái tới. Người này nói rằng Dương Hồng đã thiết lập phòng tuyến và cố thủ khu vực quận thành. Một nửa Hà Tây thất thủ mà không cần giao tranh, chuyện này đã diễn ra hơn tháng. Sứ giả đó là người thứ ba được Dương Hồng cử đi cầu viện điện hạ!”
Hơn một tháng…
Nói cách khác, rất có khả năng ngay sau khi nàng viết bức thư ấy gửi cho hắn ở ngoài Ngọc Môn Quan, thì đại quân Đông Địch đã tràn tới, tấn công Hà Tây.
Lý Huyền Độ biến sắc, hắn gằn giọng hỏi: “Vương phi thì sao? Có tin tức gì về nàng không?”
Diệp Tiêu lắc đầu: “Thuộc hạ đã dò hỏi sứ giả về tin tức của vương phi, nhưng không thu được kết quả. Thấy tình hình chiến sự khẩn cấp, sứ giả lại không quen đường như thuộc hạ, cộng thêm mười vạn quân dân Hà Tây đang rơi vào cảnh ngàn cân treo sợi tóc, thuộc hạ không còn cách nào khác, đành quay về bẩm báo lên điện hạ trước!”
Lý Huyền Độ nhìn chằm chằm về phía Hà Tây, sắc mặt sa sầm, bàn tay siết chặt đến nỗi gân xanh nổi hằn trên mu bàn tay.
Chỉ một thoáng sau, hắn dằn lại cơn giận, bảo Diệp Tiêu chờ một lát, sau đó quay người bước đến bên ngựa, rút bút mực giấy nghiên từ túi da treo bên yên ngựa, viết vội một bức thư tay, gấp lại đưa cho Diệp Tiêu: “Ngươi lập tức quay về, tập hợp binh mã ở Đô hộ phủ tổ chức cứu viện! Đồng thời phái người chuyển bức thư này tới thành Ngân Nguyệt cho cô mẫu ta càng nhanh càng tốt!”
Diệp Tiêu nhận thư, cúi đầu đáp: “Tuân lệnh”.
Lý Huyền Độ sai người chuẩn bị lương khô và nước giao cho Diệp Tiêu. Diệp Tiêu nhận lấy.
“Nói với cô mẫu ta rằng hiện giờ Bắc Đạo đã thông. Nếu bà phát binh, tới thẳng Ngọc Môn bằng tuyến Bắc Đạo sẽ nhanh hơn rất nhiều!”
Diệp Tiêu ghi nhớ từng lời, không dám trì hoãn thêm nữa, sau khi hành lễ với Lý Huyền Độ, hắn lập tức xoay người lên ngựa.
Khi hắn vừa định thúc ngựa đi thì Lý Huyền Độ bỗng gọi với lại: “Khoan đã!”
Diệp Tiêu ngoảnh lại.
Lý Huyền Độ nhìn Diệp Tiêu, giọng dịu xuống: “Vương tỷ vẫn bình an, chắc là sắp sinh rồi. Sương phu nhân đang chăm sóc cho nàng ấy. Khi ngươi trở về, nói không chừng đã được làm phụ thân.”
Diệp Tiêu thoạt đầu sững người, rồi ánh mắt dần sáng lên, lộ vẻ cảm kích. Hắn cúi đầu thật sâu, dập đầu tạ ơn, sau đó giật cương, phi ngựa như bay.
Lý Huyền Độ cũng không nán lại thêm. Hắn ra lệnh cho người vào thành bổ sung lương thảo, sau đó tiếp tục lên đường.
Mười mấy ngày sau, khi hắn đến được Ngọc Môn Quan, quả nhiên, cảnh tượng trước mắt đúng như những gì Diệp Tiêu đã nói.
Trên lầu quan, bốn lá cờ quen thuộc gồm có Thanh Long, Bạch Hổ, Chu Tước, Huyền Vũ, đều đã biến mất, thay vào đó là một lá cờ hình đầu sói diễu võ dương oai. Hắn vòng qua cổng quan, vượt qua một đoạn Trường Thành đổ nát để lẻn vào trong, men theo lối đường mòn hẻo lánh, đi qua từng dải doanh trấn hoang phế nối tiếp nhau và những thành trấn ven đường giờ đã bị người Đông Địch chiếm giữ. Vài ngày sau, hắn mới tiếp cận được khu vực quận thành.
Tính ra đã tròn hai tháng kể từ khi một nửa Hà Tây thất thủ. Đô úy Hà Tây là Dương Hồng đã kiên cường cố thủ, tử chiến suốt ngần ấy thời gian.
Ban đầu, ông nắm trong tay hai vạn quân chính quy, cộng thêm nhóm tạp binh được chiêu mộ khẩn cấp trên khắp Hà Tây, tổng cộng khoảng bốn vạn người. Thế nhưng, lực lượng có khả năng tác chiến thực sự chỉ vỏn vẹn hai vạn quân chính quy kia mà thôi. Tuy phần lớn tạp binh là những hiệp khách giang hồ hoặc hán tử Hà Tây, gan dạ, dũng mãnh, nhưng họ chưa từng được huấn luyện bài bản. Đến khi đối mặt với cảnh giáo mác đan xen, máu lửa sinh tử, dù là ứng biến hay nghe lệnh, đều chẳng thể so với quân đội chính quy, cùng lắm chỉ có thể dùng làm viện binh ứng phó tạm thời.
Điều may mắn duy nhất là kỵ binh Đông Địch giỏi xung phong trên đất bằng, đánh dã chiến, còn công thành và giao tranh trong thành quách, ngõ hẻm lại không phải sở trường của chúng. Nhờ vậy, ông mới có thể kiên trì tới tận hôm nay.
Trước quận thành, ông đã bố trí ba tuyến phòng ngự. Suốt hai tháng qua, tuyến thứ nhất đã bị phá từ tháng trước, tuyến thứ hai cũng đã thất thủ từ cách đây nửa tháng.
Hiện nay, tuyến phòng thủ thứ ba đặt tại Tỳ Bà Hạp, cách quận thành hai trăm dặm, xem chừng cũng sắp không trụ thêm được nữa.
Ngay khi nãy, ông vừa nhận được chiến báo khẩn từ tiền tuyến gửi về: gần một nửa trong số hơn vạn quân trấn giữ Tỳ Bà Hạp đã thương vong. Nếu không lập tức phái quân tăng viện, e rằng khó cầm cự được thêm ba ngày.
Dương Hồng rơi vào thế tiến thoái lưỡng nan.
Nếu tiếp tục điều quân chi viện nhưng lỡ may vẫn không giữ được, khi đến lượt quận thành phải đối đầu với đại quân Đông Địch, e rằng trong tay ông cũng chẳng còn binh mã để điều động.
Nhưng nếu không phái quân đi, để Tỳ Bà Hạp rơi vào biến loạn, cục diện sẽ càng rối ren, chẳng khác nào một nồi cháo heo.
Tĩnh Quan phía sau vẫn đang đóng chặt, ông không nhận được bất kỳ sự viện trợ nào. Giờ đây, hy vọng duy nhất chính là bức thư cầu cứu gửi đi Tây Vực sẽ được chuyển tới tay Tần vương một cách thuận lợi, quân cứu viện có thể đến đây càng nhanh càng tốt.
Nhưng niềm hy vọng này quá mong manh, hầu như không ai dám đặt trọn hy vọng vào nó.
Từng đoàn dân chạy nạn rút khỏi tiền tuyến không thể vượt qua Tĩnh Quan để tiến vào nội quận. Ngoài số đã kịp vào quận thành, hiện còn vô số dân thường bị kẹt ở dọc đường, từ bốn phương tám hướng, không ngừng đổ dồn về phía quận thành.
Trong khi đó, lương thảo tích trữ trong thành chỉ đủ dùng tối đa một tháng.
Nếu tình hình cứ tiếp diễn như vậy, ngay cả khi giữ được quận thành, họ vẫn sẽ phải đối mặt với tuyệt cảnh không còn lương thực chỉ sau một tháng.
Mặc dù Dương Hồng đã ra lệnh giữ bí mật tuyệt đối, nhưng tin tức vẫn lan truyền ra ngoài. Mấy ngày nay, lòng quân đã bắt đầu lung lay.
Trong sảnh nghị sự của Đô úy phủ, một cuộc tranh luận kịch liệt đang diễn ra.
Bỏ lại Tỳ Bà Hạp, điều hết số binh mã còn lại quay về, đóng chặt cổng quận thành, ngăn không cho lưu dân tràn vào nội thành, chỉ có như thế họ mới còn sức cầm cự, chờ viện binh của Đô hộ phủ Tây Vực, thứ hy vọng mơ hồ mà chẳng ai dám thật lòng trông cậy.
Trên thực tế, ai nấy đều hiểu rõ, đó chẳng qua chỉ là một thứ niềm tin để tự an ủi mà thôi.
Nếu không có niềm tin ấy, e rằng dù chỉ một ngày thôi, họ cũng không thể chống đỡ nổi.
Cuối cùng, đề xuất này giành được sự ủng hộ của đa số tướng lĩnh thuộc Đô úy phủ, chỉ chờ Dương Hồng phê duyệt.
Dương Hồng đã không ngủ suốt ba ngày ba đêm. Giờ phút này, gương mặt ông đen sạm, đôi mắt đỏ ngầu.
Ông căm hận Hoàng đế đã đóng cổng Tĩnh Quan, cắt đứt đường sống của mười vạn quân dân Hà Tây. Nếu hôm nay ông cũng hạ lệnh bỏ Tỳ Bà Hạp, đóng chặt cổng thành, thì ông khác gì tên Hoàng đế kia?
Một khi Tỳ Bà Hạp thất thủ, quận thành đóng cửa, hàng vạn người dân Hà Tây đang mắc kẹt dọc đường ắt sẽ bị quân địch tàn sát không thương tiếc.
Thế nhưng, nếu chỉ dựa vào ý chí cá nhân mà phớt lờ nguyện vọng của đa số tướng sĩ dưới quyền, kiên quyết không đóng cổng thành, thì một tháng sau, lương thực cạn kiệt nhưng vẫn chưa thấy bóng dáng viện binh, đến khi đó, ông biết phải xoay xở thế nào?
Một thiên trưởng họ Tôn liếc mắt ra hiệu với mấy người bên cạnh.
“Dương Đô úy!”
Vài vị tướng kia lập tức bước ra, đồng loạt quỳ xuống, khẩn khoản thúc giục.
“Kẻ nhân từ không thể nắm binh quyền.” Dương Hồng hiểu rõ đạo lý này.
Nếu gật đầu, có lẽ còn có thể cầm cự thêm một thời gian.
Nhưng mấy vạn sinh mạng… chẳng mấy chốc sẽ bị chôn vùi chỉ bởi một câu nói của chính ông…
Bàn tay ông khẽ run. Ông ngẩng đầu, nhìn những gương mặt quen thuộc đang căng cứng đến gần như méo mó trước mắt. Đúng lúc còn đang do dự, ngoài kia bỗng vang lên những tiếng ồn ào.
Một binh sĩ hấp tấp chạy vào, báo rằng quân lính đang làm loạn, tụ tập đông đảo trước cổng Đô úy phủ.
Dương Hồng giật mình, vội lao ra ngoài. Quả nhiên, chỉ thấy hàng loạt binh sĩ vây chặt bên ngoài, mấy tên đầu lĩnh đứng giữa đám đông lớn tiếng hô hoán, chất vấn việc lương thảo trong kho lương quận thành có thật đã cạn hay chưa.
Dương Hồng nói: “Chư vị tướng sĩ hãy yên tâm! Nhất định lương thảo trong kho sẽ được ưu tiên dùng làm quân lương, đủ dùng trong vài tháng tới! Ngoài ra, ta đã phái người sang Tây Vực cầu cứu Tần vương điện hạ! Quân lương hiện có, đủ để các ngươi dùng cho tới ngày viện binh tới nơi!”
Bình thường ông luôn đích thân xử lý mọi việc, trong quân Hà Tây vốn có uy tín không nhỏ. Lúc này ông đã tự mình tiếng, nhiều binh sĩ liền im bặt, lặng lẽ cúi đầu.
Dương Hồng lén thở phào, đang định ra lệnh cho quân sĩ lập tức giải tán, ai về vị trí nấy, thì phía sau bỗng vang lên tiếng phản bác: “Này các huynh đệ! Đừng có tin lời của Dương Đô úy! Đừng để bị lừa! Nơi này cách Đô hộ phủ Tây Vực xa xôi vạn dặm, ai biết thư cầu viện có đến được hay không? Cho dù có đến được đi nữa, Đông Địch có tới mười vạn kỵ binh, thế như hổ sói, lẽ nào Tần vương lại chịu lấy trứng chọi đá? Giờ y trấn giữ Tây Vực, làm vương một cõi, việc Lý triều mất Hà Tây đâu có gây tổn hại gì tới y? Hà tất phải phí sức ứng cứu? Theo ta thấy, ngay cả Hoàng đế còn bỏ mặc Hà Tây, chẳng buồn ngó ngàng, thì chúng ta còn trấn giữ làm gì? Chi bằng giải tán hết, mạnh ai nấy chạy cho xong!”
Dương Hồng quay đầu lại, thấy kẻ lên tiếng không ai khác ngoài thuộc hạ họ Tôn của mình. Ông cả giận, truyền lệnh bắt giữ, định xử trảm vì tội làm dao động lòng quân. Không ngờ, mấy viên tướng sĩ khác lại bước ra ngăn cản, lớn tiếng phụ họa theo họ Tôn. Một số thuộc hạ thân tín của Dương Hồng cũng rút kiếm tiến lên. Hai bên đối đầu, binh lính bàn tán xôn xao, tiếng huyên náo vừa mới lắng xuống lại một lần nữa dấy lên, dội thẳng vào tai Dương Hồng.
Hầu hết binh lính bắt đầu dao động, không còn muốn cố thủ thêm nữa.
Dương Hồng biết rõ gã họ Tôn kia từng bị ông trừng phạt vì tội chậm trễ việc quân, trong lòng ôm hận. Ông không ngạc nhiên khi gã nảy sinh ý nghĩ kia giữa lúc nguy khốn. Điều khiến ông đau đớn hơn cả chính là những tướng sĩ Hà Tây vẫn luôn kề vai sát cánh cùng mình. Họ vốn là những người nhiệt huyết, dù gặp phải cường địch cũng tuyệt không đến mức dao động ý chí, càng không phải người hành xử thế này.
Tất cả, đều bắt nguồn từ cánh cổng Tĩnh Quan bị khóa chặt kia.
Ngay đến bậc chí tôn thiên hạ – Hoàng đế bệ hạ – còn bỏ mặc Hà Tây, chẳng thèm đoái hoài, thì sĩ tốt như họ, định liều mạng giữ lấy nơi này để làm gì?
“Đi thôi! Nhân lúc người Đông Địch còn chưa đánh tới, chúng ta mau vào trong thành, cướp chút của cải của đám phú thương, trước khi rơi hết vào tay giặc!”
Gã thiên trưởng họ Tôn vung tay hô to.
Dương Hồng cảm thấy máu dồn lên ngực, suýt nữa thì nôn ra máu.
Nếu không nghĩ đến những thường dân tay không tấc sắt, e rằng đến ông cũng nản lòng, không còn động lực để cố gắng.
Ông cố trấn tĩnh, đang định lên tiếng trấn an lòng quân lần cuối, thì đúng lúc này, một tiếng rít bén nhọn xé toạc không trung chợt vang lên, kéo theo đó là mũi tên mang theo ánh chớp vụt qua đỉnh đầu đám binh sĩ, lao thẳng về phía gã thiên trưởng họ Tôn kia, kẻ đang đứng trên bậc thềm trước cổng Đô úy phủ mà vung tay hô hào.
Giữa ánh mắt bàng hoàng của biết bao người, chỉ trong một cái chớp mắt, mũi tên đã xuyên tới, lặng lẽ không một tiếng động, cắm phập ngay giữa ấn đường hắn một cách chuẩn xác.
Một mũi tên đâm xuyên hộp sọ, đầu tên bật ra phía sau.
Gã há hốc miệng, lời còn chưa nói hết, hai mắt bỗng trợn trừng, tròng mắt lật ngược trắng dã. Thân hình cao bảy thước bị sức mạnh ghê gớm của mũi tên đẩy lùi, loạng choạng mấy bước về sau, rồi một tiếng “rầm” nặng nề vang lên, gã đổ sầm xuống đất, mặt ngửa lên trên, cả người co giật trong chốc lát, trước khi bất động hoàn toàn.
Đám đông chết lặng, sững sờ đến không dám thở mạnh, còn chưa kịp hoàn hồn, phía sau đã vang lên tiếng vó ngựa dồn dập. Âm thanh ấy càng lúc càng gần. Tất cả đồng loạt ngoái đầu lại thì thấy lọt vào mắt là đội nhân mã phóng như bay, gió cuốn bụi tung, chỉ chớp mắt đã đến gần, ghìm cương dừng lại, hàng ngũ nghiêm chỉnh, oai phong sừng sững.
Người cưỡi ngựa đi đầu kia, tuy chỉ mặc thường phục nhưng khí độ ung dung, phong thái xuất chúng hơn người. Lúc này, hắn một tay cầm cung, một tay quấn roi, sống lưng thẳng tắp trên lưng ngựa, chân mày sắc lạnh, thần thái nghiêm nghị, ánh mắt sắc bén quét qua đám binh sĩ phía trước. Ai nấy đều thấy giá rét thấu xương, hồn bay phách lạc, dần dần nín bặt.
“Tần vương điện hạ giá lâm――”
Thị vệ sau lưng hắn cất tiếng hô vang.
Đám binh sĩ chấn động, lập tức im phăng phắc.
Dương Hồng nhận ra ngay người tới chính là Tần vương Lý Huyền Độ.
Khoảnh khắc ấy, ông thấy mình như đang mơ, tự hỏi sao hắn lại đến nhanh như vậy. Đến khi kịp định thần, cảm xúc dâng trào, ông vội chạy ra nghênh đón.
Lý Huyền Độ tung mình xuống ngựa, sải bước tiến thẳng về cổng Đô úy phủ. Binh sĩ hai bên chủ động dạt sang hai phía, nhường đường cho hắn.
Dương Hồng chạy đến trước mặt hắn, kích động không kìm được, quỳ một gối xuống đất, hành lễ ra mắt.
Lý Huyền Độ gật đầu, ra hiệu cho ông đứng dậy, sau đó bước lên bậc thềm, xoay người đứng trên cao, đối diện với toàn bộ binh sĩ phía trước, cao giọng tuyên bố: “Ta, Lý Huyền Độ, đã có mặt tại đây. Hôm nay, ta lấy huyết mạch hoàng tộc ra để lập lời thề trước mặt chúng sĩ: Họ Lý chưa từng bỏ rơi Hà Tây, ta, Lý Huyền Độ này, lại càng không thể khoanh tay đứng nhìn mười vạn quân dân rơi vào cảnh nước sôi lửa bỏng mà bỏ mặc không cứu!”
“Nếu ta thất tín, trời tru đất diệt!”
Dứt lời, hắn rút dao găm, quét một nhát sâu vào lòng bàn tay đang giơ cao.
Máu tươi nhỏ xuống thành giọt.
Thấy cảnh đó, sự ngạc nhiên và nghi ngờ ban đầu của đám binh sĩ dần tan biến, thay vào đó là sự phấn khích.
“Trên đường tới đây, ta đã hay tin Hà Tây gặp nạn, viện binh đã được điều động, hiện đang gấp rút lên đường hành quân. Ta bảo đảm với chư vị, chỉ cần các người chịu nghe lệnh Dương Đô úy, cố thủ thêm ít ngày nữa, viện quân nhất định sẽ kịp đến trước khi lương thảo cạn kiệt! Đến lúc đó, ta sẽ cùng chư vị, lấy máu giặc Bắc, tế những đồng bào đã hy sinh!”
“Ta, Lý Huyền Độ, trước hết xin dập đầu cảm tạ chư vị tướng sĩ nơi đây!”
Từng lời từng chữ của hắn đều hết sức dõng dạc, trầm hùng như sấm nổ giữa không trung, khi rơi như đá tảng nện xuống đất. Nói dứt câu, hắn chắp tay, trịnh trọng hành một lễ tạ.
“Tần vương thiên tuế――!”
Thoáng chốc, bên ngoài Đô úy phủ là tiếng hô dậy đất rung trời. Hàng ngàn binh sĩ đồng loạt quỳ xuống, dập đầu đáp lễ.
Lý Huyền Độ lại lần nữa ôm quyền hoàn lễ với toàn quân, và rồi, giữa tiếng hô vang không dứt, hắn xoay người, bước vào Đô úy phủ.
Dương Hồng kìm lại sự xúc động trong lòng, vội dẫn người theo sau, cùng hắn tiến vào sảnh nghị sự, cung kính mời Tần vương nhập tọa, rồi lập tức bàn định kế sách.
Lần này, hầu như không gặp phải sự phản đối nào, mệnh lệnh nhanh chóng được ban ra, đó là phải lập tức tăng viện cho Tỳ Bà Hạp và phải giữ vững nơi này bằng mọi giá, trước khi quân tiếp viện kịp đến.
Chư tướng lĩnh mệnh, vội vã tản đi. Lý Huyền Độ giữ Dương Hồng lại, mở miệng hỏi ông có từng gặp vương phi hay chưa.
Dương Hồng kinh ngạc: “Vương phi? Sao người lại ở đây được chứ? Hạ quan không hề hay biết!”
Sắc mặt Lý Huyền Độ chợt biến đổi.
Từ sau khi bí mật vượt qua Ngọc Môn Quan, phi ngựa một mạch không ngừng nghỉ đến đây, điều hắn mong đợi nhất chính là nàng đã bình an tiến vào quận thành.
Nhưng giờ, dựa vào phản ứng của Dương Hồng, hắn nhận ra nàng chưa từng bước qua Tỳ Bà Hạp.
Bởi nếu nàng thực sự đặt chân đến địa giới do Dương Hồng cai quản, dựa vào mối giao tình giữa hai người, không đời nào lại không có tin báo.
Tĩnh Quan đã đóng chặt từ lâu, nàng tuyệt đối không thể vào được nội quận.
Rất có thể… nàng đang kẹt lại bên ngoài Tỳ Bà Hạp.
Đã hai tháng trôi qua, suốt quãng thời gian dài đằng đẵng ấy, phần lớn Hà Tây bên ngoài Tỳ Bà Hạp đã sớm rơi vào tay địch.
Nàng… còn sống hay đã chết? Giờ này… đang ở nơi đâu?
Dương Hồng thấy sắc mặt hắn trắng bệch, hai mắt đờ đẫn nhìn thẳng, trong lòng hoảng hốt không yên, vội nói: “Điện hạ đừng quá lo lắng! Hạ quan lập tức sai người tra xét! Biết đâu vương phi đã vào được nội ải, chỉ là chưa kịp báo tin cho hạ quan!”
Thoạt đầu, Lý Huyền Độ có vẻ như không nghe thấy, chỉ đứng lặng một lúc rất lâu, sau đó gật đầu, đáp câu “phiền ngươi rồi”, đoạn xoay người, sải bước rời khỏi Đô úy phủ.
Trên đường lớn, vô số lưu dân mất nhà mất đất đang chen chúc, lũ lượt đổ về hướng quận thành.
Giữa dòng người đông nghịt như kiến, chỉ có một bóng ngựa ngược chiều đơn độc.
Nắng gắt hun đốt, bụi vàng cuộn bay. Lý Huyền Độ bất chấp tất cả, thúc ngựa phi nhanh về hướng Ngọc Môn.
Hắn nghĩ đến một nơi.
Nếu trời xanh còn thương xót… nếu nàng vẫn còn sống, thì nhất định… nàng sẽ ở đó chờ hắn.
Truyện Hoàng Dung, truyện dịch, truyện chữ... nơi bạn đọc những truyện chất lượng nhất. Đọc truyện là thỏa sức đam mê.

Đăng nhập để bình luận