Vài ngày trước, Dương Hồng bị thương bởi một mũi tên lạc khi đang chỉ huy phòng thủ ở Tỳ Bà Hạp. Lúc này, cả người ông quấn băng, sắc mặt tái nhợt, đang chờ Lý Huyền Độ. Thấy Lý Huyền Độ xuất hiện, ông vội thông báo rằng quan chủ lương vừa tới tấu báo lần nữa, lương thực trong thành đang dần cạn kiệt, lưu dân thì ngày một đông. Trước mắt còn có thể mở vài điểm phát cháo, miễn cưỡng cầm hơi; nhưng chỉ ít ngày nữa thôi, khi phần lương dành cho lưu dân bị tiêu hao sạch sẽ, dù có giữ nổi Tỳ Bà Hạp, hậu phương vẫn sẽ náo loạn.
Khi nói những lời ấy, dẫu ông đã cố kìm nén, nỗi lo vẫn không giấu đi được.
Thoạt đầu Lý Huyền Độ không nói năng gì, chỉ bước tới trước khung cửa sổ phía Đông, nhìn về hướng Tĩnh Quan, trầm ngâm hồi lâu, rồi quay lại nói: “Dương đô úy có từng nghĩ tới chiếm Tĩnh Quan chăng?”
Dương Hồng sửng sốt.
Nếu đoạt được Tĩnh Quan thì lưu dân có thể tạm lánh ở các quận huyện lân cận, giảm bớt tình trạng quá tải ở quận thành, và điều quan trọng hơn là có thể mượn tạm lương thảo của các quận gần đó, giải quyết mối lo phía sau. Dĩ nhiên, đây là kế sách tốt nhất.
Thế nhưng Tĩnh Quan đã bị đóng cửa theo lệnh của Hoàng đế. Nếu mang quân đánh thì khác gì tạo phản?
Trước đó ông chưa từng nghĩ tới phương án này, và giờ, khi nghe những lời này được thốt ra bởi Tần vương, sau cú sốc ban đầu, ông im lặng, do dự không dám quyết.
“Điện hạ… việc lớn thế này, hạ quan không dám tự quyết…”
Lý Huyền Độ nói: “Kim thành thang trì, phi túc bất thủ. [1] Viện quân ở rất xa, không thể đến trong ngày một ngày hai. Lưu dân thiếu thốn lương thực, mỗi ngày chỉ ăn một bát cháo lót dạ, xem như tạm ổn, nhưng nếu quân lương cạn sạch, lẽ nào Đô úy định để họ ôm bụng đói thủ thành. Hoàn cảnh bất khả kháng, thì phải dùng thủ đoạn bất khả kháng. Chuyện này để ta lo liệu. Ta sẽ đích thân mang quân, chiếm Tĩnh Quan. Nếu triều đình truy cứu, ta sẽ gánh mọi trách nhiệm!”
[1]
Khi Tần vương nói, ánh mắt sáng rực, giọng điệu dứt khoát như tuốt kiếm khỏi vỏ.
Dương Hồng cắn răng, quyết liều một phen: “Điện hạ thân thể ngàn vàng, sao lại mạo hiểm thế được? Hạ quan xin lĩnh binh công thành! Còn việc phòng thủ Hà Tây, xin nhờ Điện hạ thay hạ quan trấn giữ!”
Lý Huyền Độ mỉm cười đáp: “Dương Đô úy đừng tranh với ta nữa; vết thương của ông không nhẹ, công thành kiểu gì bây giờ? Hơn nữa, ông trấn giữ Hà Tây đã nhiều năm, am hiểu việc thủ thành hơn ta. Tỳ Bà Hạp cũng cần Dương Đô úy trấn thủ, có ông tọa trấn, tướng sĩ mới yên tâm. Về phần Tĩnh Quan, cứ để ta!”
Binh lính từ lâu đã bất mãn với quyết định đóng cổng Tĩnh Quan của Hoàng đế, người mang oán giận nhiều không đếm xuể. Lần suýt nổ ra binh biến, căn nguyên cũng từ đó mà ra. Nghe tin Tần vương muốn tự mình thống lĩnh binh mã, tiến đánh Tĩnh Quan, dù biết rõ công quan là chuyện cực kỳ nguy hiểm, mười phần chết chín, song Tần vương không sợ, ai nấy đều thấy huyết khí sôi trào, đồng loạt xin được theo ra trận.
Tĩnh Quan dễ thủ khó công, thành lũy sừng sững, địa thế hiểm trở như trời dựng hào sâu, xưa nay vẫn được xem là cửa ải cuối cùng, cũng là cửa ải kiên cố nhất, dẫn từ phương Tây vào nội quận.
Ép đánh, đồng nghĩa với chấp nhận hi sinh.
Lý Huyền Độ không dám chủ quan. Hắn tổ chức tuyển chọn đội quân cảm tử, vạch ra kế hoạch công thành một cách tường tận, chỉ mong giảm thương vong đến mức thấp nhất. Một đêm bận rộn qua đi, mãi đến khi trời hửng sáng, hắn mới quay về nơi nàng ở.
Hắn đứng nhìn cửa sổ, bước chân chậm lại, cuối cùng dừng dưới bậc hành lang, chần chừ chưa tiến lên ngay.
Hắn mới đưa nàng về và trấn an nàng, vậy mà giờ đây, hắn sắp phải dẫn binh, mạo hiểm tấn công Tĩnh Quan.
Hắn nhất thời không biết nên mở lời với nàng thế nào. Đang ngẩn ngơ thì cánh cửa bỗng có tiếng “kẽo kẹt”. Hắn ngẩng lên, thấy nàng đang đứng nơi bậc cửa.
Cả đêm hắn chưa về. Tuy đã sai người về báo, dặn nàng đừng chờ, cứ yên tâm nghỉ ngơi trước, nhưng nghĩ đến cục diện Hà Tây hiện tại thì làm sao nàng yên giấc nổi? Nàng trằn trọc trên giường, ngủ một giấc chập chờn đến nửa đêm, trời vừa rạng sáng thì tỉnh lại, đang định ra ngoài hít thở khí trời thì bất ngờ thấy Lý Huyền Độ đang đứng ngay dưới bậc thềm. Dưới ánh mờ của rạng đông, bóng hắn lặng yên khiến nàng khựng lại, rồi nở một nụ cười. Nàng định bước tới nhưng Lý Huyền Độ đã nhanh chân hơn. Hắn bước lên thềm, đến trước mặt nàng, nắm lấy cánh tay nàng.
“Sao lại dậy sớm thế này? Chân còn chưa lành hẳn mà đã xuống giường rồi ư?”
Hắn cúi người, bế nàng vào trong, đặt nàng trở lại giường.
Bồ Châu cười nói: “Hôm qua ta ngủ nhiều rồi, đến đêm lại chẳng thấy buồn ngủ. Chân cũng gần khỏi rồi, đi mấy bước này vẫn được mà.”
Nàng vừa nói vừa nhìn hắn. Trong ánh sáng nhạt xuyên qua song cửa, thấy hắn không đáp, chỉ lặng lẽ đưa tay đến, nhẹ nhàng xoa bóp bắp chân đã hơi sưng lên vì mang thai, nàng hơi nghiêng đầu, cứ thế ngắm nhìn hắn.
“Chàng có chuyện sao?”
Lý Huyền Độ lắc đầu theo phản xạ, lắc được một cái thì dừng lại. Hai người nhìn nhau giây lát, sau cùng, hắn cũng tiết lộ quyết định ép đánh Tĩnh Quan.
“Xu Xu, theo tính toán của ta, phải mất ít nhất nửa tháng nữa thì viện quân của cô mẫu và Đô hộ phủ mới đến đây. Nếu chúng ta không có lương thảo mới nhập kho, nhiều khả năng chẳng thể duy trì được lâu thế. Việc này vốn không đến lượt ta ra mặt, nhưng Dương Hồng bị thương, không thể gánh vác trọng trách. Hơn nữa, tấn công Tĩnh Quan chẳng khác nào làm phản, nếu ta không đích thân đi, quân tướng sẽ thấy ngờ vực, không dám dốc sức. Trong một cuộc công thành, nếu sĩ khí không đủ thì muốn chiếm được thành gần như là điều không tưởng, chỉ uổng phí tính mạng của binh sĩ. Đó là chưa kể Tĩnh Quan là một cứ điểm kiên cố, là cửa ngõ phía Tây quan trọng nhất của Đế quốc…”
Bồ Châu ngồi thẳng dậy, nụ cười trên mặt cũng dần tắt.
Hắn ngừng lời, nhìn nàng chăm chú, chậm rãi nắm lấy tay nàng, đan những ngón tay mình vào tay nàng, siết chặt.
“Xu Xu, đừng lo cho ta…”
Hắn khựng lại, rồi bỗng mỉm cười, giọng nói cũng trở nên ôn hòa.
“Chẳng phải nàng nói trong giấc mơ của nàng, ta đã đăng cơ làm Hoàng đế sao? Ban đầu ta còn không tin, giờ xem ra ngày càng giống rồi đó. Nàng nghĩ mà xem, tấn công Tĩnh Quan tức là phản lại triều đình. Về sau, dù ta không muốn, thì Dương Hồng và đám tướng sĩ Hà Tây cùng ta đi công thành, e rằng cũng chẳng chịu lui…”
Bồ Châu bất chợt ngồi dậy, quỳ lên đầu gối hắn, ôm chặt lấy vai và lưng hắn, tựa mặt vào vai hắn.
Hắn dừng lời, để mặc nàng ôm lấy mình như thế, rồi từ từ, hắn cũng vươn tay vòng qua, siết nhẹ vòng eo đã trở nên đầy đặn của nàng.
Hai người im lặng ôm nhau một lúc. Cuối cùng, Bồ Châu buông hắn ra, mỉm cười nói: “Khi nào chàng xuất phát?”
Hắn đáp: “Đã tuyển quân xong, không thể trì hoãn thêm nữa. Ta sẽ lên đường vào ngày mai.”
Bồ Châu nhìn hắn, đáp bằng chất giọng rõ ràng, kiên định: “Tốt. Sớm ngày thắng trận trở về. Ta và con sẽ chờ chàng quay lại!”
…
Tướng thủ Tĩnh Quan tên là Mã Dực, xuất thân danh môn thế gia. Ban đầu, y mang hàm Minh Uy tướng quân chánh tứ phẩm. Năm ấy sau khi Lý Thừa Dục hạ lệnh phong quan, y lập tức được thăng lên làm tam phẩm Chiêu Dũng tướng quân. Phải biết rằng, nếu không có công lao hiển hách hoặc gia thế cực kỳ vững chắc làm chỗ chống lưng, một võ tướng muốn từ tứ phẩm lên thẳng tam phẩm, dù chưa đến mức khó như lên trời thì tuyệt đối cũng không hề dễ dàng. Vậy mà nay y lại nhảy vọt một bậc, từ tứ phẩm lên thẳng đại tướng tam phẩm, há chẳng khiến y cảm kích khôn cùng. Sau khi tự mình phân tích cục diện ở Hà Tây, y đưa ra nhận định rằng Dương Hồng sẽ chẳng thể trụ được bao lâu. Đến thời điểm này, việc ông ta có thể giữ được Tỳ Bà Hạp, ngăn không cho người Đông Địch đánh tới Tĩnh Quan đã đủ khiến Mã Dực không khỏi lấy làm khâm phục.
Nhưng khâm phục thì khâm phục, đối với Dương Hồng, xưa nay y vẫn khinh thường xuất thân của ông ta, càng không thể trái lệnh Hoàng đế. Từ sau khi chiến sự Hà Tây bùng nổ, y đã lệnh quân sĩ nghiêm phòng tử thủ, cảnh giới cẩn mật mỗi ngày, đồng thời chuẩn bị đầy đủ dầu hỏa, gỗ lăn cùng các vật dụng phòng thủ, mục đích chính là đề phòng người Đông Địch đánh tới Tĩnh Quan.
Sáng nay vừa canh năm, y vẫn đang say giấc thì đột nhiên nghe thấy chiến báo: thám báo phát hiện một cánh quân đang tiến về phía Tĩnh Quan, hơn nữa dường như còn mang theo thang mây cùng khí giới công thành. Ban đầu Mã Dực tưởng rằng Hà Tây đã hoàn toàn thất thủ, người Đông Địch đang đánh tới, cho đến khi hay tin đó là quân Hà Tây, y không khỏi choáng váng trước sự liều lĩnh của Dương Hồng. Sau đó, khi nhận được tấu báo rằng người thống lĩnh binh mã chính là Tần vương Lý Huyền Độ, y liền đứng ngồi không yên, vội triệu người tới bàn kế đối phó.
Ở kinh đô, Hoàng đế đang giao chiến với Thẩm Dương, kẻ đã nuốt trọn Đông Đô; trong khi ở phương Bắc, chiến sự cũng nổ ra liên miên. Tất cả những điều này, không phải là y không biết. Nay Tần vương Lý Huyền Độ đích thân dẫn binh tới đánh Tĩnh Quan, dù có phần dao động, nhưng cuối cùng y vẫn bị một câu nói của tâm phúc đả động.
Theo tâm phúc của y thì, “Nếu Thần Dương thắng và chiếm được kinh đô, nếu tướng quân đầu hàng, việc giữ vững địa vị hiện tại sẽ không khó, thậm chí sau này ngài còn có thể tiến xa hơn. Nhưng nếu hôm nay tướng quân hàng Tần vương, chưa bàn đến chuyện Hoàng đế chưa chắc đã bại, cho dù sau này thật sự thất bại, thiên hạ rơi vào tay Tần vương, thì việc tướng quân đóng chặt cổng quan suốt mấy tháng nay, ngồi yên nhìn quân dân Hà Tây khổ chiến, chịu tổn thất nặng nề, Tần vương có thể tha mạng cho tướng quân, nhưng muốn giữ phú quý vinh hoa thì tuyệt đối không thể!”
Những lời này khiến Mã Dực nghe mà tim đập thình thịch, hồn vía chao đảo, triệt để dập tắt ý định đầu hàng của y. Y hạ tử lệnh, truyền cho năm nghìn binh mã dưới trướng dốc toàn lực, liều chết cố thủ cổng quan, đồng thời, đem toàn bộ dầu hỏa và gỗ lăn vốn dùng để đối phó người Đông Địch chuyển hết lên tường thành, ngăn quân Hà Tây công thành.
Lý Huyền Độ dẫn binh phi ngựa tới ngoài cổng sắt Tĩnh Quan, ra lệnh cho hai nghìn dũng sĩ bày trận, chờ lệnh trong tầm bắn, rồi lệnh một binh sĩ có chất giọng vang rõ, tiến lên trước trận kêu gọi, yêu cầu Mã Dực ra đối thoại. Phía bên kia mãi không chịu lộ diện. Hắn ngẩng mắt nhìn lên tường thành, thấy phòng bị nghiêm ngặt, đao thương kiếm kích lấp loáng như sương tuyết; giữa các lỗ châu mai trên tường thành là những thân gỗ nằm lẫn lộn. Biết một trận công thành ác liệt sắp xảy ra, hắn lệnh đánh trống, sẵn sàng tung hỏa lực. Hắn cưỡi ngựa dẫn đầu, chộp lấy một cây cung lớn, định nhắm và bắn đứt lá cờ với chữ “Mã” thì bỗng nhiên, từ bên trong thành, một mũi tên sắt xé gió lao ra, cũng nhắm thẳng vào cột cờ, không lệch một phân, trúng ngay giữa cột.
Lực của mũi tên rất mạnh, không chỉ xuyên thủng cột cờ mà còn khiến vụn gỗ bay tứ tung. Dư lực khiến nửa trên của lá cờ nghiêng ngả như say rượu, cuối cùng trong tiếng hốt hoảng của binh sĩ trên thành, cột cờ bị chẻ làm đôi, mang theo lá cờ, rơi ngay dưới chân cổng thành.
Chiến kỳ của chủ soái cũng giống như thủ cấp của chủ soái, không chỉ là biểu tượng của quyền uy mà còn được coi là điềm lành dữ của trận chiến. Dù trong giao tranh thì vẫn luôn có một đội binh phụ trách bảo vệ chiến kỳ.
Vậy mà hôm nay, trước khi Tần vương phát động công thành, cờ trên tường thành đã bị mũi tên bén bắn đứt.
Vừa rồi Mã Dực chỉ là đang chột dạ, không dám leo lên đầu thành đối thoại với Lý Huyền Độ, giờ y đứng ngay gần cột cờ, trơ mắt nhìn chiến kỳ của mình bị một mũi tên không rõ là ai bắn từ trong thành bắn ra, kêu “răng rắc” rồi rơi khỏi đầu thành, thì vừa kinh hãi vừa phẫn nộ. Ngoảnh lại nhìn, y thấy một toán quân đang tiến đến từ con đường nhập thành đối diện, dẫn về phía cổng sắt Tĩnh Quan. Người đi đầu có thân hình cao lớn vạm vỡ, khí thế bức người, dẫn theo khoảng một nghìn kỵ binh và bộ binh đang phi nước đại về phía y.
Y sửng sốt, giật mình kinh hãi, nhất thời không rõ đối phương có lai lịch thế nào, liền tung người lao vút lên đầu tường thành, thò người ra ngoài nhìn xuống. Lọt vào mắt y là một người đội mũ, thân khoác chiến giáp, dáng vẻ rắn rỏi, có vẻ quen mặt nhưng y lại không nhớ nổi tên. Ngay lúc y còn đang trố mắt ra nhìn thì người kia bỗng lớn tiếng quát: “Mã Dực! Năm xưa ải này được Thái Tổ dựng lên để chống giặc ngoại xâm, vậy mà hôm nay ngươi lại dùng nó để tàn sát chính đồng bào Hà Tây! Quốc tặc cũng chỉ đến thế! Nếu còn không mở cửa, người người đều có quyền tru diệt!”
Lời nói như sấm nổ giữa trời, khí thế hiên ngang, chính khí cuồn cuộn, theo gió truyền đi, rót thẳng vào tai từng người trên dưới cổng quan.
Binh lính nghe xong ai nấy đều sững sờ, đồng loạt quay đầu, dõi mắt nhìn về phía ấy.
“Khương Nghị!” Mã Dực cuối cùng cũng nhận ra người đến, sắc mặt đại biến, kêu lên.
Khương Nghị thúc ngựa lao đi như sao băng xé gió, chớp điện giật ngang, chỉ trong khoảnh khắc đã đến trước cổng quan. Ông ghì cương, dừng ngựa ngay chính giữa cổng quan, cách mấy chục trượng.
“Hà Tây chỉ dựa vào mấy vạn binh mã để giao tranh ác liệt với mấy chục vạn kỵ binh Đông Địch. Ngươi thân là tướng, lẽ nào không biết môi hở răng lạnh? Hà Tây mất rồi, tiếp theo sẽ là Tĩnh Quan! Còn không mau mở cổng! Quyết lập công tội chuộc lỗi, về sau may ra vẫn còn một đường sống!”
Danh xưng “Chiến Thần Đại tướng quân” của Khương Nghị vốn được đông đảo binh lính ở vùng biên biết đến. Mấy năm nay tuy đã như sao sa nắng tắt, không còn chiếu rạng bầu trời Đại Lý nữa, nhưng danh tiếng một thời của ông vẫn không hề suy giảm.
Nhận ra người đàn ông trước mặt chính là Khương Nghị, vị tướng với mái tóc bạc trắng chỉ sau một đêm trong truyền thuyết, trên dưới lầu thành náo động, ai nấy đều quay lại nhìn, xôn xao bàn tán.
Mã Dực không ngờ Khương Nghị, người mà y đã không nghe tin tức gì trong nhiều năm, lại đột nhiên xuất hiện như thần binh giáng thế. Y ép chặt nỗi hoảng loạn trong lòng, gắng lấy hơi, gằn giọng quát: “Khương Nghị! Nếu ta nhớ không lầm, giờ ngươi chỉ là một tên mục giám lệnh hèn hạ chuyên chăn ngựa mà thôi! Ngươi dựa vào đâu mà tới đây ra lệnh? Ta cảnh cáo ngươi, nếu ngươi không rời đi thì đừng trách ta trở mặt!”
Khương Nghị cười vang mấy tiếng: “Mã Dực, ngươi có nhìn thấy vết lõm ba thước bên trái cánh cổng sắt dưới chân ngươi không? Đó là dấu tích khi ta giao chiến với Đông Địch ở Hà Tây rồi cắm mũi long thương vào ngực vương tộc Đông Địch, đóng hắn trên chính cánh cổng này!”
Ông thu lại tiếng cười, ánh mắt trở nên sắc bén, quét qua từng người, nói: “Mỗi tấc đất dưới chân các ngươi đều nhuốm máu của ta cũng như đồng đội của ta, Khương Nghị này! Hôm nay kỵ binh Đông Địch lại kéo tới xâm phạm, các ngươi đã không đánh thì thôi…”
Ánh mắt ông nhìn sang dàn khí tài quân sự được dựng trên vọng lâu, nói tiếp: “Đằng này, các ngươi dám dùng gỗ lăn và dầu hỏa quăng xuống đầu những đồng đội đang nỗ lực chống đỡ bên kia! Ta hỏi các ngươi, các người có phải người triều Lý không? Ta, Khương Nghị, chẳng nhẽ không đủ tư cách đến đây nói mấy lời này với các ngươi sao?”
Mỗi binh sĩ bị ánh mắt ông chiếu tới đều có cảm giác như bị soi thẳng tới tâm can. Trước khí thế uy dũng và phong thái hào sảng của ông, họ đều vô thức thấy xấu hổ. Một vài viên lính được lệnh nhấc những khúc gỗ lăn lên đặt trên tường thành cũng hạ tay xuống, đứng im khoanh tay.
Mã Dực la hét đến khàn cả tiếng: “Ta có lệnh của bệ hạ! Khương Nghị, ngươi dám trái mệnh, công khai làm phản hay sao?”
Khương Nghị đáp: “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh. [2] Quân dùng ham muốn cá nhân để cai trị thiên hạ, thần dân có thể không nghe.”
[2]
Mã Dực quay lại, lệnh cho cung thủ lập tức bắn về phía vọng lâu dưới chân Khương Nghị, nhắm thẳng vào ông, bắn chết ông.
Trên vọng lâu, một hàng cung thủ đưa mắt nhìn nhau, lưỡng lự không dám động. Mặc cho Mã Dực gào thét ra lệnh, không ai chịu giương cung trước.
Mã Dực rút kiếm xông tới, chém vào cung thủ đứng gần y nhất. Người ấy hét lên một tiếng rồi ngã vật xuống, máu tuôn thành vũng.
“Bắn! Kẻ nào dám trái lệnh thì đây chính là kết cục của hắn!”
Dưới tiếng gầm gừ hăm dọa của Mã Dực, đám cung thủ rốt cuộc cũng lục tục giương cung, nhưng mũi tên bắn ra yếu ớt vô lực, phần lớn còn chưa tới trước ngựa Khương Nghị đã rơi lả tả xuống đất.
Thấy vậy Mã Dực tức giận đến giậm chân, nghiến răng nghiến lợi, đang định vung đao tiếp tục chém giết đám cung thủ, thì Khương Nghị bỗng quát vang như sấm: “Mã Dực! Binh là con, ngươi ngang nhiên giết họ, liệu còn xứng làm tướng sao?”
Ông thúc ngựa dẫn theo binh sĩ phía sau lao thẳng tới chân thành, rồi tung người xuống ngựa, sải bước lên bậc thang.
Dưới cổng thành, binh lính của Mã Dực hầu hết chỉ đứng im quan sát, không một ai đứng ra ngăn cản. Ngay cả những thuộc hạ thân tín của Mã Dực rút kiếm xông lên cũng nhanh chóng bị binh lính theo sát phía sau Khương Nghị hạ gục. Ông thuận thế tiến thẳng lên vọng lâu, không gặp bất kỳ trở ngại nào, vung một nhát dao, chặt phăng đầu Mã Dực đang định bỏ chạy. Khương Nghị nắm chặt thanh đao còn vấy máu, ánh mắt quét ngang đám tướng sĩ, cất giọng nghiêm trang: “Mã Dực đã chết! Kẻ nào còn dám chống lại, giết không tha!”
Dáng ông sừng sững, uy phong như thiên tướng giáng trần. Đám quân sĩ bị khí thế ấy áp chế, lũ lượt buông vũ khí trong tay, chỉ còn mười mấy tên tâm phúc của Mã Dực gào thét, thúc giục thủ hạ xông lên.
“Nào các huynh đệ, nghe lệnh Khương Đại tướng quân đi! Mở cổng quan, cùng tiến lên giết giặc Đông Địch!”
Giữa hàng ngũ, vài lão tướng can đảm quát to, dẫn người lao lên, mười mấy tên thân tín của Mã Dực đều bị loạn đao giết sạch. Trong nhóm binh lính giữ quan có không ít người từ lâu đã ôm lòng bất mãn đối với Mã Dực. Thấy y chết dưới đao Khương Nghị thì đều nhất loạt trở giáo, ủng hộ ông.
Phía Tây cổng thành, Lý Huyền Đô nhận thấy có điều bất thường, liền ra lệnh tạm ngừng công thành. Khi đang ngẩng đầu quan sát tình hình, hắn bắt gặp một cái đầu người bị ném xuống từ trên cao, lăn lông lốc trên nền đất.
Họ cố nhìn kỹ, khi nhận ra đó chính là thủ cấp của Mã Dực, tướng trấn giữ Tĩnh Quan, ai nấy đều kinh hãi tột độ.
Lý Huyền Độ đã nghe thấy những tiếng hò hét lẫn tiếng kêu cứu từ trên vọng lâu truyền xuống. Hắn đã lờ mờ đoán được người vừa xuống tay là ai. Khi nhìn về phía cổng thành, hắn bỗng nghe thấy tiếng reo hò từ phía bên kia. Cánh cổng sắt khép chặt suốt mấy tháng nay chậm rãi mở ra từ bên trong. Một người đàn ông thần thái sáng láng, dẫn theo hàng ngũ binh sĩ đông đảo, sải bước ra khỏi cổng quan, hướng về phía hắn hành lễ.
“Khương thúc phụ!”
Lý Huyền Độ tung người xuống khỏi lưng ngựa, bước nhanh về phía ông. Trước khi Khương Nghị cúi mình hành lễ, hắn đã đưa tay kịp đỡ cánh tay ông, ngăn lại.
“Thúc phụ không cần đa lễ!”
Khương Nghị không chịu, lùi về sau mấy bước, tiếp tục hoàn tất đại lễ, rồi cung kính nói: “Khương Nghị bái kiến Tần vương điện hạ. Hôm nay Hà Tây gặp nạn, nhớ đến nghĩa cũ khi cùng Hà Tây chinh chiến, Khương Nghị không nỡ khoanh tay, nên đặc biệt tới đây, nguyện trợ giúp điện hạ giữ đất chống giặc!”
Lời vừa dứt, hàng ngũ tướng sĩ sau lưng ông cũng đồng loạt quỳ xuống, đồng thanh hô to, nguyện cùng dốc sức vì Tần vương.
Lý Huyền Độ đỡ Khương Nghị đứng dậy. Hai người bốn mắt nhìn nhau, hắn siết tay ông thật mạnh, rồi trịnh trọng gật đầu.
Tại Tỳ Bà Hạp, sau mấy ngày tạm thời đình chiến, sáng nay quân Đông Địch đã tập kết binh mã, phát động một đợt công kích với quy mô chưa từng có. Dương Hồng đang dẫn binh tử thủ thì nhận được tin: Tần vương đã liên minh cùng Khương Nghị, người đã khống chế được Tĩnh Quan, hiện đang dẫn năm sáu nghìn quân đến tiếp ứng. Nghe xong tin ấy, nhóm tướng sĩ đã gần như sức cùng lực kiệt như được xốc lại tinh thần, sĩ khí dâng cao. Hai cánh quân hợp nhất, cùng nhau bàn kế phản công. Dưới sự chỉ huy của Lý Huyền Độ và Khương Nghị, mặc dù quân số vẫn ít hơn quân địch rất nhiều, song nhờ ý chí bừng bừng, mấy trận liền đều liên tiếp giành thắng lợi, đẩy lui đại quân Đông Địch, đặt tuyến phòng ngự quay về Ngọc Môn Quan.
Nửa tháng sau, bên ngoài quan ải là một đội quân hùng hậu ùn ùn kéo đến từ hướng Tây. Tinh kỳ phấp phới, trường kích lấp loáng như ánh điện, vạn ngựa tung vó, khí thế bùng nổ như sấm chớp. Đó là đại quân của Đô hộ phủ cùng viện quân Tây Địch vượt núi băng đèo, giờ đã đặt chân tới nơi. Hai bên trong ngoài hợp lực, tổng tấn công bằng thế gọng kìm, giáng một đòn chí mạng vào quân Đông Địch. Quân địch tan rã, các bộ tộc theo chân chư vương, tháo chạy tán loạn. Liên quân thừa thắng truy kích, chỉ riêng một trận này đã chém hơn vạn thủ cấp, giành được đại thắng toàn diện.
Tin chiến thắng truyền về quận thành, người dân trong và ngoài thành đều vui mừng hân hoan, cờ trống rộn ràng, dân chúng ca hát nhảy múa. Bồ Châu nghe tin đại thắng, mừng rỡ vô ngần.
Ngày hôm ấy, nàng theo chân nhóm tỳ nữ, thong thả dạo bước trong sân viện, chưa đi được bao xa đã thấy vợ Dương Hồng là Chương thị, mặt mày hớn hở chạy ào vào, vừa cười vừa nói: “Vương phi, người đoán xem ai đến này?”
Lời còn chưa dứt, Bồ Châu đã nghe thấy tiếng bước chân dồn dập vang lên ngoài cửa. Nàng quay người lại, thấy Hoài Vệ đã chạy ùa vào.
Nàng đã nhận được tin: lần này, Hoài Vệ đã cùng đại quân đến Hà Tây, nhưng mãi đến hôm nay, nàng mới được gặp cậu.
Đã gần hai năm kể từ lần cuối nàng gặp cậu. Tiểu vương tử năm nào giờ đã cao vọt hẳn lên, vóc người cao hơn hẳn Bồ Châu, chẳng còn dáng vẻ tròn trịa, non nớt như trong ký ức của nàng nữa mà đã biến thành một chàng thiếu niên khôi ngô tuấn tú, thắt lưng đeo kim đao, toát lên khí chất anh hùng. Thoạt đầu, Bồ Châu suýt không nhận ra cậu. Mãi đến khi cậu phóng bước về phía nàng, reo to một tiếng “A tẩu!”, nụ cười hiện rõ trên đôi mày khóe mắt, nàng mới sực tỉnh, bật cười rồi đáp một tiếng “Hoài Vệ!”, bước nhanh về phía đối phương.
“A tẩu đứng yên đó, để đệ!”
Cậu bước thêm một bước nữa, còn chưa đứng yên thì ánh mắt đã dán chặt vào bụng nàng: “A tẩu, trong bụng tẩu có một đứa bé thật sao?”
Bồ Châu bật cười, gật đầu.
Cậu tròn mắt, buột miệng kêu lên đầy thán phục: “A tẩu giỏi quá! Đợi đứa bé chào đời, nếu là con trai giống đệ, sau này đệ sẽ dạy nó cưỡi ngựa, ra trận đánh giặc; còn nếu đây là cháu gái, đệ sẽ làm ngựa cho nó cưỡi!”
Khi nói những lời ấy, đôi mắt cậu sáng rực, lấp lánh niềm mong chờ và mộng tưởng hồn nhiên.
Bồ Châu mỉm cười, mời cậu ngồi xuống, rồi sai người mang đồ ăn lên. Cậu chộp ngay một miếng điểm tâm tinh xảo, cắn một miếng thật to, rồi cảm thán: “Đồ ăn chỗ tẩu vẫn là ngon nhất! Ở thành Ngân Nguyệt, đệ thường nghĩ về những món đệ đã ăn, đôi khi còn mơ về chúng, nhưng khi tỉnh dậy thì chúng đã biến mất rồi!”
Nàng bật cười, đẩy cả đĩa điểm tâm đến trước mặt cậu, rồi thuận miệng hỏi thăm tình hình của Đại Trưởng công chúa Kim Hi và cậu dạo gần đây.
Hoài Vệ đáp mọi chuyện đều ổn.
“Khi nhận được tin báo của Tứ huynh, đệ muốn đi lắm, nhưng mẫu hậu không yên tâm, không cho đệ đi mà chỉ để Thiện Ương dẫn quân. Đệ nói với người rằng chỉ có cừu non mới suốt ngày quanh quẩn trong chuồng, còn chim ưng thì phải tung cánh giữa trời cao! Đệ đã lớn rồi, ở thành Ngân Nguyệt, mấy vị vương tử bằng tuổi đệ đều đã lấy vợ cả rồi! Sau cùng, mẫu hậu mới chịu gật đầu, thế là đệ đến đây. Đệ muốn gặp a tẩu lâu lắm rồi, nhưng chiến sự vẫn chưa kết thúc. Mấy ngày trước, đệ mới đánh đuổi được quân địch, nên mới vội vàng đến đây. Đệ vẫn thích ở bên tẩu nhất, muốn làm gì thì làm. Chứ ở trước mặt mấy người kia, ngay cả cười cũng không được tùy tiện…”
Cậu nói đến đó thì ngay cả đồ ăn cũng chẳng còn lòng dạ mà nuốt xuống, thở dài một hơi, ngả người ra ghế, chau mày than thở.
Tuổi còn nhỏ mà đã phải gánh vác trọng trách của một vị vương, tuy có Đại Trưởng công chúa phò trợ bên cạnh, nhưng với bản tính hoạt bát, hiếu động của Hoài Vệ, sự khó khăn và áp lực trong lòng cậu hẳn cũng không ít hơn người lớn là bao.
Bồ Châu lên tiếng an ủi cậu, nói rằng đây là trời cao giao phó trọng trách cho cậu. Đang trò chuyện thì Chương thị lại hấp tấp bước vào. Lần này bà mang theo một tin khác, thông báo rằng quận chúa Ninh Phúc cũng đã tới nơi này.
“Hôm nay là ngày lành gì thế này, quý nhân tới liên tục không thôi!” Bà cười tươi rói.
Bồ Châu vô cùng vui mừng. Hoài Vệ còn vui hơn cả nàng, bật người dậy, reo to: “Đệ đi đón cho!”, rồi như một cơn lốc, lao vọt ra ngoài.
Bồ Châu cũng đi theo, tự mình đón người.
Lý Tuệ Nhi giữ vai trò quan trọng trong việc giúp Khương Nghị kịp thời kéo quân đến, Lý Huyền Độ mở được cổng Tĩnh Quan mà không cần trải qua một trận huyết chiến.
Nàng vừa đi đến hành lang trong sân, ngẩng mắt lên thì thấy Lý Tuệ Nhi khoác hờ một chiếc trường sam, theo sau Hoài Vệ đi vào.
Đã lâu không gặp, gương mặt tú lệ vốn nhuận sắc của nàng ấy giờ nhìn gầy đi trông thấy. Suốt quãng đường đi vào, nàng vẫn lắng nghe Hoài Vệ vui vẻ kể chuyện cũ, mỉm cười đáp lại, song nụ cười ấy dường như ẩn chứa vài phần u hoài. Khi chợt thấy Bồ Châu ra tận đây đón mình, nàng khựng lại, dừng bước trong giây lát.
“Tuệ Nhi!” Bồ Châu cười gọi.
“ A thẩm!”
Đôi mắt Lý Tuệ Nhi sáng lên, mừng rỡ cất tiếng gọi, vén váy chạy nhanh về phía nàng. Khi đến trước mặt Bồ Châu, nàng lại gọi thêm một tiếng “A thẩm!”, nụ cười vẫn nở trên môi, nhưng vành mắt đã hoe đỏ.
Trước đó, Bồ Châu từng nghe Lý Huyền Độ, người từng trở về trong lúc chiến tranh tạm lắng, kể rằng sau khi Thái hoàng Thái hậu qua đời, cuộc đời của Tuệ Nhi đã có bước ngoặt lớn. Nàng từng bị Thôi Huyễn giam giữ trong khoảng một thời gian. Giờ nhìn thấy Tuệ Nhi như vậy, lòng nàng cũng chua xót vô cùng. Nàng nắm tay Tuệ Nhi, đưa vào trong phòng, ôm nàng ấy vào lòng, nhẹ giọng vỗ về an ủi.
Tuệ Nhi không thể kìm nén được nữa, vùi mặt vào lòng Bồ Châu, lặng lẽ rơi nước mắt. Nghe lời an ủi của a thẩm, nàng lắc đầu, nghẹn ngào nói: “A thẩm, con không buồn cho bản thân mình, con không sao cả. Nhưng chỉ cần nghĩ đến Thái hoàng Thái hậu và Trần phu nhân là lòng con lại đau đớn không chịu nổi. Ngày ấy Thái hoàng Thái hậu vừa đi thì bà ấy cũng tuẫn tiết theo sau. Con biết, tất cả đều là do Thái hậu Thượng Quan ép buộc. Khi Trưởng công chúa khởi loạn ở kinh thành, Thái hậu Thượng Quan bị loạn quân xông vào cung giết chết. Bà ta chết là đáng kiếp! Nhưng Trần phó mẫu thì… vĩnh viễn không thể quay về được nữa rồi…”
Hoài Vệ cũng bước theo vào trong.
Trước đó, Bồ Châu từng sai người báo tin Khương thị băng hà cho Đại Trưởng công chúa, Hoài Vệ cũng đã biết chuyện này. Nghe Lý Tuệ Nhi kể lại sự việc, biết rằng ngay cả Trần nữ quan vẫn luôn đối xử vô cùng tốt với mình cũng đã qua đời, Hoài Vệ thật không khỏi đau lòng.
Nghĩ tới Khương thị, Bồ Châu cũng đau đớn khôn nguôi. Nhưng giờ cả Hoài Vệ lẫn Lý Tuệ Nhi đều nước mắt sụt sùi, nàng đành nén lại nỗi buồn, dùng khăn tay lau nhẹ nước mắt cho hai người, dịu giọng nói: “Hai người yên tâm. Tần vương cùng Khương Đại tướng quân nhất định sẽ thực hiện được tâm nguyện của Thái hoàng Thái hậu. Sau đó, chúng ta sẽ cùng nhau lo liệu để người và lão phó mẫu được yên tâm nhắm mắt!”
Lý Tuệ Nhi gật đầu, mắt vẫn còn đỏ hoe, cuối cùng cũng nín khóc, trên mặt thoáng hiện lại nụ cười. Chương thị từ sớm đã chuẩn bị sẵn phòng cho khách, sắp xếp chỗ ở cho họ. Tối hôm đó, sau bữa tối, Bồ Châu ngủ cùng Lý Tuệ Nhi. Hai người đã lâu chưa gặp. Khi hai người nằm trên gối trò chuyện, Bồ Châu liền hỏi đến chuyện nàng ấy bị Thôi Huyễn giam giữ.
Lý Tuệ Nhi đáp: “Sau khi bắt được con, ngoài việc tra hỏi về tung tích của bản danh sách thì hắn cũng không làm gì con. Vài tháng sau, Hoàng đế phái hắn ra Bắc cương đánh trận, hắn dẫn cả con theo, nhốt lại ở đó. Cho đến một ngày, không hiểu vì sao, hắn đột nhiên thả con ra, cũng chẳng nói một lời, chỉ sai người đưa con đến tìm Khương thúc tổ. Con gặp được thúc tổ, chép lại danh sách hơn trăm người mà con nhớ được. Sau khi sắp xếp ổn thỏa cho con thì thúc tổ lên đường. Mấy ngày trước, con nghe nói bên này đại thắng, quân địch đã bị quét sạch, con thật lòng muốn gặp lại a thẩm, nên đã tìm đường đến đây.”
Đóa hoa mỏng manh từng lớn lên dưới sự che chở của Khương thị, trải qua bao phen gió mưa, giờ đã trở nên kiên cường, cứng cáp hơn từng ngày.
Bồ Châu thở dài, trong lòng không khỏi cảm khái rồi sực nhớ đến tin tức mà nàng mới nghe được cách đây ít lâu.
Hà Tây đã được giải vây nhưng cục diện ở Bắc cương vẫn hết sức căng thẳng. Có tin đồn rằng chỉ mới đây thôi, Lý Thừa Dục đã hạ một sắc lệnh khẩn, lệnh Thôi Huyễn lập tức hồi kinh. Thôi Huyễn viện cớ chiến sự chưa yên, kiên quyết không theo. Lý Thừa Dục nổi giận, cho rằng hắn có lòng phản trắc, liền hạ lệnh cắt đứt toàn bộ lương thảo của hắn.
Nghĩ đến đó, lòng nàng bất giác trĩu nặng.
Bấy giờ, Lý Tuệ Nhi vốn đã nhắm nghiền mắt tưởng như đã ngủ, bỗng mở mắt, nhỏ nhẹ hỏi: “A thẩm, người họ Thôi ấy… a thẩm quen biết hắn đã bao năm, rốt cuộc hắn là người tốt… hay là kẻ xấu vậy?”
Bồ Châu nhìn nàng thật lâu, khẽ đáp: “Người tốt kẻ xấu, chỉ thuộc về quan điểm thôi mà. Ta luôn cảm thấy, dù hắn có thay đổi thế nào, hắn vẫn là Thôi Huyễn mà ta từng quen biết thuở trước.”
Lý Tuệ Nhi nghe mà như hiểu như không, im lặng một lúc lâu. Rồi mí mắt nàng khép dần, hơi thở đều đều, cuối cùng cũng chìm vào giấc ngủ.
Bồ Châu thì vẫn còn thức. Đến tận khuya, nàng không kìm được đứng dậy, khoác áo ngoài, ngồi xuống viết một phong thư. Sáng hôm sau, nàng liền sai người, truyền lệnh phải nhanh chóng gửi thư ấy đến tay Lý Huyền Độ.
…
Bắc cương.
Suốt mấy tháng trời, Thôi Huyễn đã dẫn quân quần thảo liên tục với người Đông Địch, tranh đoạt từng tấc đất hai bên bờ dòng sông phân giới. Hai phe đánh qua đánh lại, tới nay đã không dưới bốn, năm lần.
Nước sông lúc đỏ như máu, rồi lại trong veo; vừa trong rồi lại hóa đỏ.
Đã ba ngày rồi hắn chưa được một bữa ăn no.
Hôm ấy, hoàng hôn đỏ rực như máu. Cả người Thôi Huyễn đỏ rực, ngay cả đáy mắt cũng bị ánh đỏ bao phủ. Giữa chiến trường tàn khốc như địa ngục trần gian, hắn vừa bị bổ thêm một nhát đao nữa.
Hắn lật ngược thanh trường đao đã chém giết đến sứt mẻ, lưỡi đao xoay xuống, mũi đao cắm xuống đất làm điểm tựa, còn hắn thì cố chống đỡ thân thể đang lảo đảo sắp đổ, ngăn chính mình không ngã quỵ xuống.
Đây hẳn là trận cuối cùng.
Ý nghĩ ấy chợt lóe lên trong đầu hắn.
Đáng buồn thay, chiến thắng cuối cùng vẫn không thuộc về họ.
Hắn, những người đồng đội đã ngã xuống và cả những kẻ không chịu bỏ chạy nhưng cũng sắp vùi thân trên mảnh đất này, những người còn sót lại ấy, đều là những kẻ thất bại trong trận chiến giành giật dòng sông phân giới này.
Hoàng đế của họ đã hạ lệnh cắt đứt đường tiếp tế.
Hắn cảm nhận được sinh mệnh của mình đang dần cạn kiệt và đang theo dòng máu ấm nóng, bị rút dần ra khỏi cơ thể.
Đợi đến khi máu chảy cạn, hắn biết, mình cũng sẽ chết.
Nhưng vào thời khắc sinh mệnh sắp bị đặt dấu chấm hết này, hắn không cảm thấy sợ hãi.
Hắn chỉ cảm thấy mờ mịt.
Cả đời này của hắn, hay nói đúng hơn, mục đích sống của hắn rốt cuộc là vì điều gì?
Suy nghĩ này thoáng qua tâm trí gần như trắng xóa của hắn, gợi nhớ về miền ký ức, thuộc về quá khứ xưa kia.
Chẳng phải chỉ là để trở nên nổi bật, trèo lên thật cao, đứng vững gót chân, giẫm lên toàn bộ những kẻ từng khinh rẻ, chèn ép hắn dưới chân, mặc cho phía sau có là hồng thủy ngập trời thì cũng chẳng màng ngoảnh lại?
Kinh đô lâm nguy, Hoàng đế nhiều lần thúc giục hắn hồi kinh. Theo lẽ thường, đáng lẽ hắn phải tuân mệnh, quay về bảo vệ kinh sư.
Nếu mất kinh thành, tòa tháp hắn dày công dựng nên cũng sẽ theo đó sụp đổ.
Thế nhưng hắn lại không quay về, cố thủ đến khi tự đẩy mình vào ngõ cụt, bước vào giờ phút tận cùng này.
Quả nhiên, đúng như điều hắn dự liệu, hắn đã thua trong canh bạc này.
Nhưng hắn không hề cảm thấy hối hận.
Bởi đây là lựa chọn của chính hắn.
Mặc dù chính hắn cũng không biết tại sao mình lại đưa ra lựa chọn đó.
Có lẽ, hắn không muốn phụ lòng cậu thiếu niên sinh ra và lớn lên ở vùng biên, mới mười bốn tuổi đã cầm đao xông pha trận mạc, chém rụng đầu tên giặc Hồ đầu tiên trong đời.
Hoặc có lẽ, hắn không muốn một ngày nào đó trong tương lai, khi nghe người ta nhắc đến tên hắn, tiểu nữ quân trong lòng hắn sẽ lộ vẻ thờ ơ, thậm chí pha chút khinh miệt và nói rằng: “Ồ, chính là kẻ đã bỏ mặc cả dải đất biên cương rộng lớn, không đánh đã lui đó sao?”
Dòng sông phân giới đã nhuộm đỏ hoàn toàn. Trên mặt sông, xác người lềnh bềnh trôi, phủ kín một vùng, khiến dòng nước cũng chậm lại.
Một đợt quân địch vừa bị chém ngã xuống, liền có thêm từng lớp, từng lớp khác tràn tới, càng lúc càng gần.
Chúng đã vượt sông, đang điên cuồng lao về phía hắn.
Hắn vùng vẫy, dốc hết sức lực còn sót lại, rốt cuộc cũng gượng đứng thẳng người thêm một lần nữa. Hắn dùng toàn bộ sinh lực cuối cùng, siết chặt thanh đao trong tay, kéo lê thân thể, từng bước, từng bước một, tiến về phía tên địch đang xông thẳng về phía mình.
Tên địch ấy đã sắp xông tới trước mặt hắn. Giữa lúc đối phương nhe răng cười nham nhở, giơ cao trường đao, còn hắn cũng chuẩn bị bổ tới, quyết tâm sống mái một phen, thì một mũi tên sắc bén từ phía sau hắn vụt tới, xuyên qua cổ họng của kẻ địch.
Hắn khựng lại.
Trong cơn mơ hồ, dường như hắn nghe thấy phía sau lưng mình là tiếng reo hò và tiếng trống trận rền rĩ.
Những tướng sĩ còn sống xung quanh hắn, mặc cho thân người bê bết máu, đều đồng loạt quay đầu nhìn lại. Trong khi hắn, ngay cả khí lực để quay đầu cũng đã cạn sạch.
Hắn đứng sững, bất động hồi lâu, cho đến khi tiếng hò reo phấn khích của một trong những phó tướng dưới quyền vọng vào tai: “Đại tướng quân! Tần vương tới rồi! Tần vương dẫn quân nước Khuyết đến tiếp viện!”
Thôi Huyễn từ từ quay đầu lại.
Trước mắt hắn, khắp núi đồi cờ xí dày đặc, che kín cả bầu trời.
Trong ánh đỏ mờ ảo trước mắt hắn, hắn thấy một bóng người quen thuộc, cưỡi ngựa tiến về phía mình.
Hắn ngửa mặt, ngã vật xuống đất.
Hắn nghĩ mình đã chết, nhưng cuối cùng, hắn nhận ra mình vẫn còn sống.
Hắn ngủ một giấc, thật dài, thật sâu. Trong cơn mộng mịt ấy, dường như hắn còn mơ thấy thuở thiếu niên, mơ thấy tiểu nữ quân của mình. Lần đầu gặp nàng, ngay cả trong mơ, cậu thiếu niên lớn lên giữa Hà Tây gió cát và thô ráp như chính vùng đất đã nuôi dưỡng cậu lớn lên ấy, chưa từng thấy, cũng không tưởng tượng được rằng, thế gian này lại có một cô gái đẹp đến ngần ấy.
Nàng chẳng cần làm gì, cũng chẳng cần mở miệng đòi hỏi điều gì. Chỉ cần đôi mắt sáng trong như nước hồ thu kia liếc nhìn hắn, chỉ cần nàng đứng bên đường, để gió nhẹ lay động làn tóc mai, rồi mỉm cười vẫy tay gọi hắn, thì bất luận nàng muốn gì, hắn đều nguyện dâng hết lên, cả trái tim và linh hồn mình, không chút do dự.
Hắn cũng không quên cái ngày cậu thiếu niên kia muốn tặng nàng một cây trâm cài tóc, song nàng đã lịch sự từ chối, còn cậu thì mỉm cười đáp rằng: một ngày nào đó, nàng sẽ tự nguyện đeo nó.
Sau này, hắn mới biết, cậu thiếu niên ấy từng ngông cuồng và tự phụ đến mức nào.
Không còn cơ hội ấy nữa.
Cả đời này, không bao giờ còn cơ hội ấy nữa.
Nhưng nếu về sau, khi nàng vô tình nhớ đến hắn, nếu trong lòng nàng vẫn còn đọng lại đôi chút hình bóng của thiếu niên năm nào, với hắn, vậy đã đủ rồi.
Từ đầu đến cuối, chưa khi nào hắn muốn nàng xem thường mình.
“Tiểu nữ quân…”
Thôi Huyễn bật ra một tiếng lẩm bẩm giữa lúc mê man.
Âm thanh ấy đánh thức người đàn ông tuấn tú đang ngồi bên bàn đặt trong đại trướng giữa quân.
Đêm sâu, bốn bề yên ắng, không một tiếng động.
Người ấy nhướng mày, liếc về phía chiếc giường nơi chàng trai trẻ còn đang hôn mê vì trọng thương. Sau đó, hắn cụp mắt, lật sang một trang khác, rồi lại lặng lẽ đọc tiếp.
Truyện Hoàng Dung, truyện dịch, truyện chữ... nơi bạn đọc những truyện chất lượng nhất. Đọc truyện là thỏa sức đam mê.

Đăng nhập để bình luận