Mỹ Lực dốc cạn sức lực, liều chết chém mở đường máu, vừa đánh vừa lui.
Hắn dũng mãnh hơn người, đám binh sĩ tầm thường căn bản không thể áp sát. Cuối cùng, hắn cũng hất văng được truy binh phía sau, dẫn theo số quân còn theo kịp, liều mạng thoát đến cửa Tây dưới chân núi.
Để giảm bớt trọng lượng, giúp chiến mã tăng tốc, hắn cởi bỏ thiết giáp, đang định thúc ngựa xông thẳng ra ngoài, tìm cơ hội mưu tính, thì đột nhiên, hắn khựng lại.
Ngay trước cửa núi phía trước là một người đàn ông ung dung ngồi vững trên lưng ngựa, tay cầm hoành thương, dẫn theo một đội quân phía sau, hiên ngang chặn đứng con đường mà hắn đang chạy trốn.
Đó là một vị tướng quân người Hán.
Mỹ Lực nhận ra người này.
Nhiều năm về trước, khi hắn còn chưa trưởng thành, chính người này đã thống lĩnh đại quân triều Lý, đánh tan nước Địch, chia cắt chúng thành hai phần: Đông Địch và Tây Địch.
Nhiều năm trôi qua, dù cho đối phương không còn trẻ trung như xưa, nhưng đôi mắt thâm trầm, uy nghiêm kia, chỉ cần liếc qua một lần, hắn đã vĩnh viễn không thể quên.
Đại tướng quân của triều Lý: Khương Nghị!
Hắn nghiến răng, gọi thầm tên đối phương một cách hằn học.
Bên cạnh Khương Nghị còn có một thiếu niên, cũng ngồi trên lưng ngựa. Cậu đội mũ giáp gắn tua đỏ, khoác xích giáp, trên đỉnh mũ là một chùm tua đỏ phấp phới theo gió, hai tay mỗi bên xách một chiếc chùy Hỗn Nguyên, đảo mắt nhìn quanh, thần khí bừng bừng.
Thiếu niên này thì càng không cần phải nói thêm. So với hai năm trước, vóc dáng cậu đã cao lớn hơn không ít, nhưng lẽ nào Mỹ Lực lại chẳng thể nhận ra.
Chính là Tây Địch vương hiện nay, thứ tạp chủng mang trong người dòng máu người Hán, Hoài Vệ!
Vừa thấy Mỹ Lực, hai mắt Hoài Vệ lập tức đỏ ngầu. Cậu vung song chùy, gào lên: “Mỹ Lực! Ngươi hại chết huynh trưởng ta, làm nhục mẫu hậu ta! Ta và ngươi không đội trời chung! Hôm nay, chính nơi này sẽ là chỗ chôn thây của ngươi! Xem ngươi còn định chạy đi đâu!” Dứt lời, cậu thúc ngựa, nóng lòng muốn dẫn quân phía sau xông tới.
Khương Nghị giơ trường thương lên, chặn ngay trước đầu ngựa của cậu.
Cậu hiểu rõ Khương Nghị không cho mình tiến lên, dù có phần không muốn nhưng cũng không dám trái ý, cuối cùng chỉ đành hậm hực thu lại đại chùy, đặt trở lại khóa sắt phía sau lưng, trừng mắt nhìn Mỹ Lực ở phía đối diện.
Đương nhiên, Mỹ Lực cũng không để thằng nhóc miệng còn hôi sữa ấy vào mắt.
Nhưng người đứng bên cạnh thằng nhóc kia thì khác.
Hắn đã bất cẩn và phải hứng chịu thất bại thảm hại dưới tay Lý Huyền Độ, vừa mới thoát thân, lại gặp phải vị chiến thần của triều Lý năm xưa.
Hiển nhiên đối phương đã sớm có chuẩn bị, cố ý chờ hắn ở nơi này.
Trước đó, hắn đã nhận được tin Khương Nghị dẫn binh đến phía Tây, chặn đánh quân Khang Cư.
Hắn không ngờ rằng, đối phương lại xuất hiện ngay tại đây, vào lúc này.
Rõ ràng, cuộc chiến ở mặt trận phía Tây đã kết thúc.
Mỹ Lực ngầm hiểu, có lẽ hắn sẽ không thể thoát thân dễ dàng như vậy nữa.
Nét mặt hắn sa sầm, vươn tay chụp lấy cây lang nha bổng treo bên hông, quát lớn một tiếng, thúc ngựa lao thẳng về phía Khương Nghị.
Khương Nghị cầm trong tay một cây thương mũi sắt, thúc ngựa nghênh chiến.
Cặp lang nha bổng mà Mỹ Lực quen dùng, mỗi chiếc nặng đến ba mươi cân, thân bổng gắn đầy móc sắt nhọn hoắt như nanh sói, sắc bén vô cùng. Đừng nói là bị nện trúng, chỉ cần sượt qua thôi cũng đủ xé rách da thịt, đau đớn tột cùng.
Đây là một trận cận chiến, bằng cách đối đầu trực diện, nhằm mục đích tước đoạt mạng sống của đối phương. Hai bên vừa chạm mặt, không hề thăm dò, cũng chẳng thèm tung hỏa mù, cứ thế, nhắm thẳng vào điểm yếu chí mạng của nhau.
Kẻ thua cuộc chỉ có một con đường, đường chết.
Mỹ Lực biết rõ đây là thời khắc sinh tử. Hai mắt hắn đỏ ngầu, hàm răng nghiến chặt, vung cặp lang nha bổng trong tay đến mức gió rít vù vù. Sau hơn mười hiệp qua lại, mấy lần tưởng chừng đã có thể nện trúng Khương Nghị, song cuối cùng hắn vẫn chưa làm được.
Hắn càng đánh càng hăng, rốt cuộc cũng rình được cơ hội, vung mạnh song bổng, bất ngờ hợp kích, kẹp chặt mũi thương đang đâm về phía mình.
Mũi thương bị mắc giữa những chiếc nanh sắt, không rút ra được. Mỹ Lực không cho Khương Nghị bất kỳ cơ hội nào để rút thương về, dốc hết sức lực, sau đó vặn mạnh một cái.
Mục đích của hắn là ép Khương Nghị buông tay, đoạt lấy binh khí của ông.
Khương Nghị quả thật đã buông tay. Nhưng chuyện xảy ra ngay sau đó lại là một cảnh tượng mà có nằm mơ Mỹ Lực cũng không tưởng tưởng được.
Ngay khoảnh khắc hắn trở tay ép Khương Nghị phải thả tay, thân thương bằng gỗ chắc của cây thiết thương trong tay Khương Nghị vì lực tác động mà đột ngột cong xuống.
Ngay khi nó cong lại như một cánh cung bị kéo căng, Khương Nghị bỗng nhiên buông tay.
Một đầu lang nha bổng vụt về phía Mỹ Lực chỉ trong tích tắc. Mỹ Lực chỉ kịp cảm nhận được một luồng kình phong quét qua, căn bản không kịp phản ứng, đầu bổng nặng trịch đã đập mạnh vào đỉnh đầu hắn ta.
Bên tai hắn “ong” lên một tiếng, trước mắt chớp nhoáng ánh sao, đầu hắn đau nhức như muốn nổ tung.
Hắn thét lên một tiếng, thân hình cao lớn như tháp sắt lảo đảo sắp đổ, song vẫn cố cắn răng ngồi trên lưng ngựa, muốn gắng gượng lấy lại ý thức. Đúng lúc này, bàn tay Khương Nghị đã đón lấy thân thương bật trở về, nắm chặt trong tay rồi rút mũi thương ra khỏi hàm nanh sắt, trở tay đâm mạnh, một tiếng “phụt” vang lên, mũi thương sắc nhọn đã đâm thẳng và xuyên qua lồng ngực Mỹ Lực chỉ trong chớp mắt.
Khương Nghị gầm lên, rồi dùng hết sức vung hai tay lên cao.
Mỹ Lực cao tám thước, nặng đến hai trăm cân, vậy mà lại bị ông xỏ “sống” trên mũi thương, nhấc bổng khỏi lưng ngựa. Người hắn như một con diều bị đứt dây, bay vọt ra ngoài, rồi rơi phịch xuống đất.
Mỹ Lực nằm sấp, nôn ra máu, mặt nhăn nhúm vì đau đớn, tay chân co quắp, quằn quại trên mặt đất một lúc lâu trước khi hoàn toàn bất động.
Khương Nghị thong thả thu hồi cây thương trong tay, máu trên mũi thương vẫn đang nhỏ giọt, đặt ngang trên lưng ngựa, lạnh lùng nhìn Mỹ Lực nằm dưới đất.
Từ khoảnh khắc đầu tiên, khi hai người đàn ông cưỡi ngựa, bắt đầu trận tử chiến này, bầu không khí chết chóc đã bao trùm tất cả những ai đang có mặt.
Dù là binh mã của Khương Nghị hay là người của Mỹ Lực thì đều nín thở quan sát, ai nấy đều căng thẳng đến cực điểm.
Giờ khắc này, cuộc chém giết cuối cùng cũng hạ màn.
Sau một thoáng tĩnh lặng đến rợn người, Hoài Vệ, người ban nãy còn hồi hộp đến mức gần như không thể thở nổi, bỗng nhiên phấn khích, nhảy xuống khỏi lưng ngựa, quát lệnh kẻ đối diện nếu đầu hàng thì có thể tha chết, bằng không sẽ giết không tha.
Binh sĩ phía sau cậu lập tức đuổi theo đám tàn quân của Mỹ Lực đang hoảng hốt tháo chạy.
Cậu chạy đến trước ngựa Khương Nghị, ngẩng đầu nhìn ông vẫn ngồi trên lưng ngựa, ánh mắt lấp lánh vẻ sùng bái.
“Đại tướng quân, ta phải làm thế nào thì sau này mới lợi hại được như ngài?”
Khương Nghị nhìn cậu, ánh mắt dịu dàng khó có thể nhận ra.
Ông vừa định mở miệng, thì Mỹ Lực vốn đã nằm rạp dưới đất, không còn nhúc nhích, đột nhiên ngẩng đầu lên, hai mắt trợn trừng nhìn chòng chọc vào Hoài Vệ đang quay lưng về phía mình. Gần như cùng lúc đó, cả người hắn bật dậy khỏi mặt đất.
“Đồ tạp chủng, chết chung đi!”
Hắn rút một con dao găm từ trong người ra, hung hăng lao tới, bổ nhào về phía Hoài Vệ.
Hoài Vệ đứng chắn ngay trước Mỹ Lực, nếu phóng thương qua, thì lỡ đâu làm cậu bị thương.
Tránh ra.
Đồng tử của Khương Nghị đột nhiên thu nhỏ lại. Ông gầm lên, tung người nhảy khỏi lưng ngựa, cuốn nhanh Hoài Vệ còn chưa kịp phản ứng sang một bên để tránh cú đâm mà Mỹ Lực dốc toàn bộ sức lực cuối cùng.
Tuy nhiên, chính bản thân ông lại tránh không kịp.
Dao găm sắc bén, chém sắt như bùn, dù ông đang mặc chiến giáp, nhưng miếng giáp vẫn bị rạch tung.
Ông thoáng nhíu mày, tung ra một cú đá nhanh như chớp, hất văng con dao găm trong tay Mỹ Lực, Mỹ Lực cũng theo đó ngã dúi dụi xuống đất.
Đến lúc này, Hoài Vệ mới hoàn hồn, lửa giận bốc lên ngùn ngụt. Cậu chộp lấy cây đại chùy của mình, xông tới bên cạnh Mỹ Lực còn chưa tắt thở, vung chùy lên, nện thẳng xuống đầu hắn một cách hung tợn.
Sọ của Mỹ Lực vỡ vụn ngay lập tức, não văng tung tóe, lúc này hắn mới thực sự tắt thở.
Những năm trước, tuy Hoài Vệ còn nhỏ tuổi, nhưng cũng từng nhận ra ánh mắt Mỹ Lực khi nhìn mẫu thân mình có phần bất thường, bản năng khiến cậu vô cùng chán ghét hắn, chỉ là khi ấy còn non nớt, không hiểu đó là ý gì. Hai năm trở lại đây, cậu dần hiểu chuyện nam nữ, đến đây cậu mới ngộ ra, chỉ hận không thể giết hắn ngay. Lúc này thấy người đã chết, cậu vẫn chưa nguôi hận, lại vung chùy nện thêm mấy cái nữa, đập đến mức cái đầu kia gần như bẹp dí, chẳng còn hình dạng con người, rồi mới đá mạnh thi thể hắn văng sang một bên.
Cậu ném chùy xuống, phủi tay, bước tới chỗ Khương Nghị đang đứng bên cạnh, hỏi: “Đại tướng quân, ngài không sao chứ? Vừa rồi may mà ngài cứu ta!”
Sắc mặt Khương Nghị hơi tái, nhưng ngoài mặt vẫn nở nụ cười, lắc đầu nói: “Ta không sao. Ta sẽ sai người đưa cháu về thành Ngân Nguyệt trước, còn ta sẽ sang chỗ Tứ huynh của cháu xem tình hình chiến sự bên đó thế nào rồi.”
Nói xong, ông xoay người, cao giọng gọi một viên phó tướng tới, lệnh cho hắn dẫn người hộ tống Tây Địch vương trở về thành Ngân Nguyệt, còn mình thì cất bước, tiếp tục tiến về phía trước.
Hoài Vệ vừa nghe liền cuống lên.
Lần này, tuy quân Khang Cư ở mặt trận phía Tây rất đông và hung hãn, nhưng từ khi Khương Nghị dẫn binh tới nơi và hội quân kịp thời với quân Thiện Ương và quân đội người Khuyết, hầu như không còn bất ngờ nào xảy ra. Sau vài trận đánh lớn nhỏ, vương tử Khang Cư bị bắt sống ngay trước trận, chiến sự cũng coi như kết thúc. Vòng vây phía Tây nhờ đó được hóa giải.
Mấy ngày trước, cậu chỉ theo sau làm cảnh, căn bản còn chưa đánh đã tay.
Cậu vội nhặt cây chùy lên, đuổi theo phía sau, vừa đuổi vừa ra sức thuyết phục, muốn Khương Nghị cho phép mình đi cùng.
Lần trước đến Tây Vực, sau khi đánh xong, Thiện Ương dẫn binh quay về, còn Hoài Vệ thì vẫn chưa trở lại. Ban đầu cậu ở lại quận thành với Bồ Châu và những người khác, sau đó theo Khương Nghị ra Ngọc Môn Quan phòng thủ phương Bắc, đã ở bên ông mấy tháng trời. Ngày thường, Khương Nghị không chỉ dạy cậu binh thư thao lược, truyền thụ võ nghệ, mà trong sinh hoạt hằng ngày cũng vô cùng kiên nhẫn với cậu.
Nhưng hôm nay, ông lại cư xử khác thường, nói xong liền không để ý đến cậu nữa, bước chân càng lúc càng nhanh, chẳng mấy chốc đã bỏ lại cậu phía sau.
Cảm giác này hoàn toàn khác với cảm giác khi đối diện với Tứ huynh Tần vương. Với Tứ huynh, tuy cũng kính yêu, nhưng vẫn có thể đùa cợt.
Đối với vị Khương Đại tướng quân này, ngoài sự kính trọng, Hoài Vệ còn có thêm vài phần e sợ. Thấy ông không cho phép, cậu cũng không dám làm ầm lên, chỉ đành dừng bước, buồn bực nhìn theo bóng lưng ông. Đúng lúc đó, cậu bỗng phát hiện trên mặt đất dưới chân ông, có một giọt máu bắn xuống.
Theo từng bước chân xa dần về phía trước, máu từ bên chân ông nhỏ xuống càng lúc càng nhiều, càng lúc càng dày.
Ban đầu chỉ là từng giọt nhưng chỉ thoáng chốc đã kéo thành dòng. Máu tuôn như suối, từ một góc y phục thò ra dưới chiến giáp của ông, chảy xuống không ngừng.
“Đại tướng quân, ngài đang chảy máu!”
Hoài Vệ giật mình, cuống cuồng đuổi theo, chặn trước mặt ông. Ánh mắt cậu dừng lại ở phần chiến giáp trước ngực đã bị dao găm rạch nát khi nãy. Phải đến lúc này, cậu mới phát hiện, phần áo lót bên dưới lớp giáp bị cắt rách đã nhuốm đầy máu.
Thì ra vừa rồi, để cứu cậu, ông đã bị dao găm làm bị thương, vậy mà còn giấu, không cho cậu biết!
Nhìn lượng máu này, hẳn không phải vết thương nông.
Quân y hiện không ở gần đây. Hoài Vệ chắn trước mặt Khương Nghị, đỡ ông ngồi xuống một tảng đá ven đường, tự tay giúp ông cởi chiến giáp và áo trong. Đến lúc này, cậu mới nhìn rõ, một bên ngực ông có một vết thương dài và sâu, da thịt lật ra, máu vẫn tuôn ra từ miệng vết thương, thấm ướt vạt áo trung y màu xanh và cả phần vạt dưới, cả người ông giống như vừa được vớt lên từ một vũng máu.
Hoài Vệ cuống quýt gọi một tùy tùng tới, lấy kim sang dược luôn mang theo bên người, rắc lên vết thương, rồi xé một dải vải từ gấu áo trong của mình, nhanh tay giúp ông băng bó cầm máu.
“Đều tại ta! Là ta hại Đại tướng quân bị thương…”
Hoài Vệ nhìn máu đang trào ra, rất nhanh đã thấm ướt cả lớp băng vải. Cậu không nhịn được, hốc mắt đỏ hoe, giọng nói cũng nghẹn ngào theo.
Khương Nghị mất máu khá nhiều, sắc môi hơi tái. Ông ngồi trên tảng đá, nhìn vẻ tự trách hiện rõ trên mặt Hoài Vệ khi cậu băng bó cho mình, bất chợt thở dài, ôn tồn nói: “Cháu không cần tự trách. Ta không sao, chỉ là vết thương ngoài da, chuyện nhỏ thôi mà.”
Hoài Vệ sốt ruột chờ thêm một lúc, thấy kim sang dược cuối cùng cũng phát huy tác dụng, vết thương đang dần cầm máu, thở phào một hơi dài, ngẩng đầu nói: “Đại tướng quân, ngài bị thương rồi, ngài hãy cùng ta quay về thành Ngân Nguyệt trước đi!”
Khương Nghị khựng lại rồi lắc đầu: “Cháu cứ về trước đi. Vừa nãy ta nói rồi, ta còn phải đi gặp Tứ huynh của cháu.”
“Vậy ta cũng đi!”
Khương Nghị lại lắc đầu.
“Cháu vẫn nên trở về. Trước kia thành bị bao vây, nhưng giờ đường đã thông thoáng. Cháu đi xa quá lâu rồi, giao tranh liên miên, mẫu thân cháu hẳn sẽ rất lo lắng.”
Giọng ông vẫn ôn hòa như cũ, nhưng lại mang theo thứ sức nặng khiến người ta không sao phản bác được.
Hoài Vệ do dự một lát, cuối cùng đáp: “Thôi được. Ta nghe theo Đại tướng quân.”
Khương Nghị mỉm cười, gật đầu.
“Lúc ta ở Hà Tây, Tứ tẩu từng bảo muốn đến thành Ngân Nguyệt một chuyến. Đợi khi chiến sự dứt hẳn, chắc tẩu ấy sẽ tới đây thôi. Ngài nhớ cùng Tứ huynh, Tứ tẩu đến thành Ngân Nguyệt thăm ta, và cả mẫu hậu ta nữa. Người rất tốt, nhất định người và Đại tướng quân sẽ rất hợp nhau!”
Khương Nghị ngồi trên tảng đá nhìn cậu, chỉ mỉm cười, không nói gì.
Hoài Vệ thì cho rằng ông đã đồng ý, trong lòng liền an tâm.
Khương Nghị khép vạt áo lại, lần nữa lệnh cho viên phó tướng kia hộ tống Hoài Vệ trở về. Hoài Vệ lưu luyến lên ngựa, nói lời từ biệt với ông, rồi mới theo những người khác đi về phía thành Ngân Nguyệt.
Khương Nghị đứng bên đường, dõi theo bóng lưng cậu, bỗng nhiên gọi cậu một tiếng.
Hoài Vệ vội quay lại thì nghe ông nói: “Sau khi trở về, đừng nói với mẫu thân cháu biết chuyện ta bị thương.”
“Vì sao? Ngài bị thương vì cứu ta cơ mà, sao ta lại không thể nói với bà ấy kia chứ?” Hoài Vệ hỏi với vẻ khó hiểu.
Khương Nghị trầm ngâm, đáp rằng: “Nếu cháu nói cho bà ấy biết, ắt phải nói rõ nguyên do. Nếu biết cháu suýt bị đâm trúng, bà ấy sẽ vô cùng lo lắng.”
“Huống chi, vết thương này của ta thực sự chỉ là bị thương ngoài da, nghỉ ngơi hai ngày là ổn.”
Nghe giọng ông nghiêm túc, Hoài Vệ phân vân một lúc, cuối cùng vẫn miễn cưỡng gật đầu.
Khương Nghị mỉm cười, phất tay với cậu: “Được rồi, cháu đi đi, dọc đường cẩn thận!”
Hoài Vệ đáp lời, ngồi trên lưng ngựa, vừa đi vừa ngoái đầu lại nhìn, bịn rịn không nỡ.
Khương Nghị đưa mắt nhìn theo bóng dáng cậu dần khuất khỏi tầm mắt, rồi xoay người, liếc về hướng Trác Âm Sơn, sau đó trở mình lên ngựa, dẫn người phi nhanh mà đi.
…
Sau khi Mỹ Lực trốn thoát, dưới sự vây công dồn dập của quân địch, số binh mã còn lại của các chư vương Đông Địch nhanh chóng tan rã, bắt đầu tháo chạy tán loạn về phía Bắc.
Sau nửa ngày giao tranh kịch liệt nữa, đến buổi chiều, khi mặt trời chói chang treo cao trên đỉnh đầu, chiến sự dưới chân dãy núi này cuối cùng cũng dần lắng xuống.
Lý Huyền Độ đứng giữa chiến trường, nhìn về phương Bắc, chợt thấy Khương Nghị thúc ngựa phi tới từ xa, liền bước lên đón. Khi hay tin Mỹ Lực đã bị Hoài Vệ tự tay dùng chùy nện chết, hắn chậm rãi thở ra một hơi.
Binh sĩ bắt đầu dọn dẹp chiến trường, còn các tướng lĩnh thì áp giải những vị vương và quý tộc của các bộ tộc Đông Địch bị bắt sống, từ khắp bốn phương tám hướng, lần lượt tụ về phía hắn.
Trương Tróc cùng mấy binh sĩ khác cũng áp giải một người đàn ông trung niên tiến tới.
Người này râu xoăn, mũi cao, chiến giáp trên người đã bị cởi bỏ từ sớm, trường bào rách nát thành từng mảnh, bộ dạng vô cùng chật vật.
Người đó chính là Ô Ly vương.
Sau khi Mỹ Lực bỏ chạy, thấy tình thế không ổn, ông ta cũng định rút quân chuồn đi, nhưng nào trốn thoát được. Lúc này, ông ta bị trói lại, bị áp giải riêng tới đây.
Ông ta nhìn người đàn ông trẻ tuổi đối diện, thần sắc lạnh lùng, ánh mắt sắc bén như mũi tên bắn thẳng vào mình, biết đó chính là Tần vương của triều Lý, liền hấp tấp nói: “Tiểu vương nguyện quy thuận Tần vương! Nguyện tận trung với triều Lý! Xin thề từ hôm nay trở đi, triệt để đoạn tuyệt quan hệ với Đông Địch! Về sau chỉ cúi đầu xưng thần với triều Lý, hằng năm dâng cống!”
Theo cách hiểu của ông ta, những quốc gia nằm ngoài vùng biên viễn như họ, bất luận trước kia đã từng quy phục Đông Địch hay không, chỉ cần biểu lộ lòng trung thành với Lý triều và quy hàng thì sẽ không bị làm khó. Huống chi mười mấy vị vương Đông Địch bị bắt cùng ông ta lúc trước, nghe nói chỉ cần chịu hàng là có thể giữ được tính mạng.
Nếu họ làm được, thì cớ gì ông ta lại không? Không chỉ giữ được mạng, thậm chí còn có thể tiếp tục làm vương.
Nào ngờ, vị Tần vương trẻ tuổi kia lại dường như không hề nghe thấy.
Hắn vẫn lạnh lùng nhìn chằm chằm vào ông ta, phản ứng duy nhất chính là đưa tay đặt lên chuôi kiếm bên hông, năm ngón tay từ từ siết chặt, cuối cùng nắm chắc, rồi đột ngột rút kiếm ra khỏi vỏ.
Dưới ánh mặt trời rực rỡ, lưỡi kiếm trắng lạnh như có một đạo hàn quang lướt qua, chói lóa đến đau mắt.
Ô Ly vương nhìn thấy Tần vương nắm chặt trường kiếm trong tay, sắc mặt lập tức biến đổi.
“Quỳ xuống!” Lý Huyền Độ nghiêm giọng quát lớn.
Ô Ly vương rùng mình, một cảm giác bất an bao trùm lấy ông ta.
Nhưng trước mặt rất nhiều người, bao gồm cả các tướng lĩnh và binh lính bị bắt cùng mình, là Ô Ly vương, sao có thể tỏ ra hèn nhát?
Ông ta cố gắng đáp trả một cách yếu ớt: “Điện hạ muốn nói gì? Chẳng lẽ muốn giết tiểu vương? Chẳng phải các người từng nói sẽ không giết những vị vương chịu quy thuận hay sao?”
Một binh sĩ phía sau đá mạnh vào khoeo chân sau của ông ta. Ô Ly vương không đứng vững, quỵ xuống trước mặt Lý Huyền Độ.
Ông ta bò rạp, bộ dạng nhếch nhác, quay đầu về phía vương của các bộ Đông Địch bị bắt cách đó không xa.
“Chúng đều được sống! Vì sao tiểu vương lại không thể?”
Nếu như lúc đầu chỉ là phỏng đoán, thì giờ khắc này, ông ta đã nhìn thấy một luồng sát khí lạnh lẽo đến thấu xương từ trong ánh mắt của vị Tần vương đối diện.
Ông ta bị nỗi sợ cái chết siết chặt, không kìm được nữa mà gào lên, tiếng nói khản đặc.
“Tiểu vương không phục! Vì sao phải giết tiểu vương? Lần này đánh Tây Địch, tiểu vương không phải chủ mưu! Tiểu vương là bị ép buộc…”
“Ngươi còn nhớ không, mười hai năm trước, sứ thần của Lý triều ta, Bồ Tả Trung lang tướng?”
Lý Huyền Độ lạnh lùng cắt ngang lời ông ta.
Ô Ly vương sững người, nhưng nhanh chóng nhớ ra.
Năm đó, vị sứ quan triều Lý bị ông ta sai người tập kích giết chết, sau đó lại bị ông ta hạ lệnh phơi xác thị uy, ông ta sao có thể quên được.
Mặt ông ta tái mét, môi mấp máy, nhưng không còn phát ra được bất kỳ âm thanh nào nữa.
“Những kẻ khác, bất luận là ai, đều có thể đầu hàng. Nhưng ngươi thì không còn cơ hội đó nữa.”
Lý Huyền Độ dùng giọng điệu bình tĩnh để nói rõ từng câu từng chữ. Trước ánh mắt bàng hoàng của Ô Ly vương, hắn vung kiếm, một nhát chém đứt ngang eo ông ta.
Nửa thân trên liền với đầu của Ô Ly vương và nửa thân dưới bị tách làm hai, máu đen phun trào dữ dội, nhưng ông ta vẫn chưa chết ngay.
Gương mặt ông ta là cái vẻ không thể tin nổi. Đôi mắt đã nhuốm tử khí trợn trừng, nhìn chằm chằm vào nửa thân dưới đang nằm ngay gần đó. Những ngón tay tuyệt vọng bấu lấy cỏ dại trên đất, nửa thân người co quắp, vặn vẹo, dường như còn muốn bò sang phía bên kia.
Lý Huyền Độ đưa tay lau vệt máu bẩn vừa bắn lên mặt mình, mở mắt ra, hạ xuống mệnh lệnh cuối cùng: lăng trì, phanh thây vạn đoạn.
Binh sĩ ồ ạt xông lên, giơ cao đao phủ trong tay.
Mùi tanh máu đặc quánh dưới ánh mặt trời gay gắt, xộc thẳng vào hơi thở con người. Chiến trường dưới chân trải dài đến tận chân trời, máu thịt và thi thể chồng chất.
Vạn dặm hoang nguyên dường như bị bao phủ bởi sự im lặng chết chóc.
Đúng lúc này, trên một sườn dốc cao dưới chân núi, một con sói trắng đầu đàn với thân hình khổng lồ, bỗng nhảy vọt ra.
Đôi mắt của con thú lóe lên vẻ hung hãn, dường như đã ngửi thấy mùi máu tanh nồng khắp nơi. Hàm răng sắc nhọn của nó chảy đầy nước dãi, nhảy loạn dọc sườn núi, hướng về phía này và phát ra chuỗi tru dài đến rợn người, âm thanh tựa như khiêu khích, thị uy.
Mười mấy vị vương của các bộ Đông Địch đã bị bắt cùng với hàng nghìn người Đông Địch theo hàng trở nên kích động.
Vô số ánh mắt đổ dồn về con sói trắng đầu đàn kia, biểu cảm trên khuôn mặt mỗi người mỗi khác. Có người tỏ ra bối rối, số khác lại nuôi dưỡng một sự mong đợi khó nói thành lời. Thậm chí có kẻ còn kích động đến mức sụp xuống bái lạy.
Sắc mặt Lý Huyền Độ vẫn không đổi.
Hắn cúi xuống, nhặt một cây thần tí cung vô chủ đã nhuốm đầy máu, rồi thản nhiên rút một mũi tên còn dính lẫn máu thịt nhầy nhụa từ thi thể của một người Địch, giương cung, kéo căng hết cỡ. Dây cung căng chặt rung lên, nhắm thẳng vào con sói trắng đầu đàn đang không ngừng nhảy nhót phía xa. Chốc lát sau, hắn buông tay.
Mũi tên rời dây, đuổi theo con sói trắng đầu đàn, như cuồng phong cuốn theo sao băng, chỉ trong chớp nhoáng, một mũi tên đã cắm thẳng vào chính giữa đầu sói.
Sói trắng đầu đàn cất lên một tiếng hú dài cuối cùng, một tiếng than khóc thảm thiết, trước khi ngã chúi đầu xuống từ mỏm đá, rơi bịch xuống đất.
Lý Huyền Độ ném cung, trở mình nhảy lên lưng ngựa, vung tay, giương kiếm, chỉ thẳng về hướng Bắc, nơi vương đình Đông Địch tọa lạc, nghiêm giọng quát lớn: “Truy kích!”
Mệnh lệnh của hắn được truyền đi từng lớp, lan tỏa khắp chiến trường.
Chút ánh sáng nhỏ nhoi trong mắt đám vương Đông Địch kia đồng loạt tắt lịm, ai nấy mặt như tro tàn.
Còn ngàn vạn tướng sĩ dưới trướng Lý Huyền Độ, ngay khoảnh khắc con sói trắng đầu đàn ngã xuống cũng như mệnh lệnh truy kích vừa phát ra, tiếng hô vang trời dậy đất cũng theo đó bùng nổ.
Thiên tử thần võ!
Vạn thế công lao!
Tiếng hô ấy như long uy hổ chấn, rung chuyển cả hoang nguyên, dội vang không dứt.
Truyện Hoàng Dung, truyện dịch, truyện chữ... nơi bạn đọc những truyện chất lượng nhất. Đọc truyện là thỏa sức đam mê.

Đăng nhập để bình luận